PHƯỚC LÝ TRONG TIM TÔI

Đôi lời giới thiệu: Bài viết này do Cha M. Monfort Nguyễn Vinh, cựu Bề trên Đan viện, cưu Giám đốc Đệ tử Khiết Tâm Phước Lý thực hiện. Đây là một bài viết rất công phu ghi lại lịch sử hình thành và phát triển của Đan viện Khiết Tâm Phước Lý. Bài viết này được thực hiện năm 1999, cho chúng ta một cái nhìn toàn cảnh về sự hình thành và phát triển của Đan viện.

                              PHƯỚC LÝ TRONG TIM TÔI

Mỗi lần nhìn lại quá khứ, chúng ta cảm thấy giòng thời gian cuộc đời tựa như những giây phút phù du, thoáng qua như gió thổi, trôi dạt như mây bay. Đó cũng là cảm nhận của thi sĩ Nguyễn Du khi ông viết câu thơ bất hủ:
“ Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”
Nhìn cuộc đời như cảnh phù du, hay như cánh hoa sớm nở chiều tàn, nên tác giả Thánh Vịnh đã viết:
“Kiếp phù sinh tháng ngày vắn vỏi,
Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,
Một cơn gió thoảng là xong…”
( Tv 102, 14-15)
Hay:
Ấy tuổi đời con Chúa cho một vài gang tấc,
Kiếp sống này Chúa kể bằng không,
Đứng ở đời thật con người chỉ như hơi thở
Thấp thoáng trên đường tựa bóng câu”
                                                                            (Tv38, 6-7)
Hẳn thật đời người là như thế. Mới ngày nào đây tưởng chừng như hôm qua thấy mình trẻ trung nhanh nhẹn đi đó đi đây, ấp ủ mộng đời tựa hồ ôm ấp cả thế giới trong con tim máu chảy, trong ý chí hào hùng, vậy mà phút chốc, giờ này đời đã xế bóng, đã tóc bạc da mồi, chồn chân mỏi gối, sức lực cuộc đời đang trên đà tàn lụi. Cũng vậy, mới ngày nào đây chào đời non dại, lo ăn từng bữa, nhà cửa thô sơ, nhân số ít ỏi, sợ không ơn gọi, thế mà hôm nay Phước Lý đã trở thành một Cộng Đoàn đông đảo với vườn ruộng bao la, nhà cửa đồ sộ. Kể từ hôm đó, ngày ra đi rời Nhà Mẹ Phước Sơn năm 1950, đến hôm nay, thấm thoát Cộng Đoàn Phước Lý đã tròn 50 tuổi đời ( năm 2000).
Mới ngày nào đây các vị cha anh tiền phong, hăng hái xuất hành tựa đàn chim tung cánh về miền Nam, đi xây dựng Nhà Chúa, mà giờ này các vị đã ra người thiên cổ, an giấc dưới lòng đất mẹ Phước Lý, quả đúng như tiếng than nức nở của nhà thơ trước thân phận phù du đời người “ nhân sinh tự cổ thùy vô tử”, hoặc là vần thơ  diễn tả tâm sự nuối tiếc kiếp người tạm bợ
“Đời người như giấc chiêm bao,
Nghìn xưa đã mấy ai nào trăm năm”. (N.K.H)
Cuộc sống con người và những công trình sự nghiệp của nó dược ví như một tấm thảm dệt bằng những thành công thất bại, thuận lợi khó khăn, niềm vui xen lẫn nỗi buồn. Cuộc nhân sinh trong giòng đời là thế.
Nhìn lại công trình xây dựng gian khổ của cha anh trong nửa thế kỷ qua, kẻ hậu sinh này dù đời đã xế muộn, đầu óc không còn sáng suốt, trí nhớ không còn minh mẫn và ngòi bút không còn linh hoạt, cũng phấn đấu hết mình trong tinh thần vâng phục để ghi lại cho hậu thế những giòng lược sử của Đan Viện Phước Lý. Hy vọng những giòng đơn sơ, nghèo nàn giới hạn này cũng giúp cho các độc giả chưa một lần biết về nguồn gốc Cộng Đoàn của mình có một cái nhìn dẫu là thiếu sót về gốc tích của Đan Viện mà mình thành viên. Hy vọng độc giả cũng cảm thông cho sự yếu kém của tác giả về mặt nội dung cũng như hình thức, và đặc biệt những ai am tường về Phước Lý sẽ vui lòng bổ túc những gì còn thiếu sót. Đó tin tưởng và niềm vui của tác giả.
TIẾNG GỌI LÊN ĐƯỜNG
Thời tạo dựng, Thiên Chúa Ya vê phán bảo Adam-Eva “ Hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất” ( St 1, 28). Từ đó giòng giống con người không ngừng nhân lên và có mặt trên khắp cùng bờ cõi trái đất.
Thiên Chúa luôn kỳ diệu trong công trình của Người, Thần Linh Thiên Chúa vẫn âm thầm tác động trong Giáo Hội và trong lòng người dưới nhiều hình thức, dù con người ý thức hay không. Theo tác giả cuốn “ Hạnh tích Cha Benoit”, thì vào cuối năm 1949, tin tức cho biết là Dòng Trappe bên Trung Quốc bị giải thể, gây mối ưu tư cho các Cha Phước Sơn. Do đó, Cộng Đoàn cùng với Cha Bề Trên toan tính kế hoạch tìm đất lập Dòng như chiến thuật “ tích cốc phòng cơ” đề phòng lúc gặp nạn thì có phưng án giải quyết. Nhiều ý kiến được đề nghị: qua Lào, len Kontum là địa điểm Cha Tổ Phụ đã nhòm ngó. Đang lúc dự tính còn chưa dứt khoát rõ ràng, thì vào trung tuần tháng 6 năm 1950, Cha M. Alberico Trần Văn Nhơn nhận chuyến đi dưỡng  bệnh tại Sài Gòn, đã ghé xuống Vĩnh Long thăm vị Thầy cũ là Đức Cha Phê rô Ngô Đình Thục, và trình bày với Dức Cha về dự tính của Phước Sơn. Thông cảm với nỗi lo của Dòng, Đức Cha đề nghị Dòng nên vào Nam, Đức Cha sẽ có hướng hổ trợ, và Ngài gợi ý là ở họ Chà Và có một ngôi nhà không sử dụng, các cha  các thầy có thể vào tạm trú ở đó cho đên khi tìm được địa điểm lập Dòng. Lời gởi ý chân tình của Đức Giám Mục Vĩnh Long đến đúng lúc như một đáp ứng nguyện vọng của Phước Sơn. Qua sự kiện này, chúng ta thấy được tác động của Chúa Thánh Thần trong Giào Hội.
 Sau cuộc họp bàn góp ý của Hội Đồng Đan Viện, Cha Viện Trưởng Dom M. Bernard Mendibour đã cử Cha Viện Phó M. Casimir Hồ Thiên Cung làm trửng phái đoàn vào Nam lập Dòng mới. Phái đoàn gồm Cha Viện Phó với 4 Linh Mục là các cha: M. Sylvester, M. Vitalis, M. Alberico, Xaverio, một thầy sáu là thầy M. Gioan Nguyễn Văn Luận và 14 anh em là Thầy M. Gabriel, M. Louis, M. Paulino, M. Pascale, M. Clemente, M. Hardingo, M. Egidio, M. Leo, M. Ireneo, M. Antonio Padua, M. Roberto, M.  Phê-rô, M. Luca, M. Adriano và em Đệ Tử là Phạm Văn Trí cùng một chú Dòng Ba là Nguyện Văn Tài. Với nhân số này, thì đây quả là một phái đoàn hùng hồn, dư thừa khả năng xây dựng cuộc sống vững vàng.
Như thuyền buồm đợi gió để ra khơi, phái đoàn đi lập Dòng cũng đang sẵn sàng đợi lệnh để lên đường. Mùa thu năm 1950 có Đại Hội Dòng Xi tô nhóm họp tại Roma, và Cha M. Gilbert Barnabee được cử làm Đại Diện Phước Sơn đi tham dự. Trong kỳ họp này, Cha M. Gilbert đã trình Đại Hội dự án Lập Dòng mới của Phước Sơn, và dự án được Đại Hội hoan nghên chấp thận.
Với sự chấp thuận và chúc lành của Đại Hội, ngày 23 tháng 10 năm 1950 phái đoàn tạm biệt Cộng Đoàn, rời Mẹ Phước Sơn lên đường vào Nam. Cuộc hành trình đến một phương xa như từ Phước Sơn Quảng Trị vào miền Nam trong một thời buổi mà tình hình chính trị của đất nước rất phức tạp, không phải là dễ. Tuy nhiên, tin tưởng vào Chúa quan phòng, ra đi trong đức vâng lời để thực hiện một sứ mạng của Chúa, với niềm tin này phái đoàn an tâm xuất hành.
Sau gần hai tuần lễ hành trình, ngày 17 tháng 11 năm 1950, phái đoàn đã đặt chân tới Giáo Họ Chà Và, thuộc Vĩnh Kim, tỉnh Trà Vinh. Nhờ lòng hảo tâm của Giáo Họ Chà Và, các Đan Sĩ  đã được đón tiếp niềm nở và được tá túc chu đáo trước khi tìm được chỗ định cư.
 On định việc tạm trú anh em xong, Cha trưởng đoàn lo đi tìm đất. Có hai địa điểm Đúc Cha Vĩnh Long đề nghị là Vồng Rùm và Vồng Lớn. Nhưng không thích hợp. Lúc này Cha trưởng đoàn nhớ lại sở đất 250 mẫu ở Phước Lý mà Cô Tám Maria Trịnh Thị Dung tình nguyện dâng hiến để lập Dòng hồi năm 1945. Nhưng hiện giờ sở đất này nằm trong vùng có chiến tranh, không thể đến được.

Sau ba tháng vất vả dò tìm, Cha trưởng đoàn đã may mắn tìm được địa điểm thích hợp ở Mặc Bắc, quê hương của Ngài. Đó là sở đất 30 mẫu của ông Chính Nghiệm, là một sở đất ruộng màu mỡ, tọa lạc tại giao điểm hai giòng sông: sông Vàm Cỏ và sông Hậu Giang. Phong cảnh địa thế tại đây rất hữu tình. Hai giòng nước giao nhau như nói lên cuộc gặp gỡ giao duyên giữa Thiên Chúa và các Đan Sĩ tại nơi đây như điểm hẹn ân tình. Sở đất này nằm trong địa hạt Giáo Họ Tân Thành, là sở hữu của ông bà Chín Nghiệm và người cháu là chú Tư Châu. Các sở hữu chủ này vinh dự được dâng cho các cha để lập Dòng.
Khi mọi công việc sắp xếp chuẩn bị tạm ổn, thì vào hạ tuần tháng 3 năm 1951 (23/3), phái đoàn từ giã Giáo Họ Chà Và và chuyển đến địa điểm an bài để khởi công xây dựng. Mọi người đều cảm thấy phấn khởi.
Ông bà Chín Nghiệm kết duyên với nhau từ hồi xuân xanh đến nay vẫn còn son sẻ chưa một lần làm cha làm mẹ. Một gia đình không có tiếng khóc tiếng cười của trẻ con là một gia đình buồn thảm. Tuy nhiên hai ông bà rất đạo đức, giàu lòng bác ái và rất nhiệt tình với Cộng Đoàn mới, đón nhận các Đan Sĩ như là đàn con cháu Chúa gởi đến. Có lần ông tâm sự với Cha Bề Trên: “ Thưa Cha, cảm tạ tình Chúa ngàn trùng, chúng con vô cùng hạnh phúc. Ngài ban cho chúng con nhà cửa ruộng vườn quá lòng chúng con mong ước. Nay có cơ hội ngàn năm một thuở hiến dâng để mở mang Nước Chúa, chúng con hân hoan sẵn sàng dâng hiến ruộng đất cho Dòng, xin Cha tùy ý chọn lựa nơi nào phù hợp với chương trình của Cha, cả ngôi nhà chúng con đang ở đây nữa( nhà lầu rộng rãi có đủ tiện nghi), chúng con còn nhiều nhà ở khác, xin Cha đùng ái ngại”.
Quả thật là hồng ân của Chúa Quan Phòng khiến Cộng Đoàn có duyên may gặp được những con người hào hiệp, những quả tim vàng sẵn sàng dâng cúng và giúp đỡ nhiệt tình. Thế là Cộng Đoàn hoan hỉ an tâm lập cư trên địa điểm này, ven bờ chi nhánh sông Vàm Cỏ, có vườn trái cây, có rạch mò lươn đơm cá, có dừa lá lợp nhà, có loại chà là dập ra làm vách ngăn phòng. Quả là một thuận lợi hết sức may mắn mà Cha trên trời dành cho con cái của Ngài.
Sau nhiều tháng mãi miết lao động, anh em đã hoàn thành ngôi nhà nguyện và các căn nhà tối thiểu cần thiết cho sinh hoạt đan tu. Tất cả đều bằng cây và lá dứa.
Ngày lễ Trái Tim Đức Mẹ tháng 6 năm 1951, Cộng Đoàn hân hoan tổ chức Thánh Lễ Tạ Ơn trọng  thể đầu tiên và dâng hiến Nguyện Đường cho Đức Mẹ dưới tước hiệu “ Mẫu Tâm” và đặt tên cho nhà mới là “ Đan Viện Thánh Mậu Thiên Phước”. Từ đây anh em đi vào nếp sống bình thường theo Quy Luật, ngày đêm dâng lên Thiên Chúa những lời kinh nguyện ngợi khen ca tụng. Cuộc sống mới nơi đất lạ xứ người diễn tiến êm đềm tốt đẹp, mọi người đều cảm thấy an vui, thực hiển châm ngôn bất hủ của dời chiêm niệm là “ Cầu Nguyện và Lao Động”.
Tháng 10 năm 1951 Cộng Đoàn hân hoan đón tiếp Cha Viện Trưởng Nhà Mẹ Phước Sơn Dom M. Bernard Mendibour vào thăm Thiên Phước. Còn gì vui hơn cuộc gặp gỡ thân tình giữa cha con sau một thời gian lâu dài xa cách. Giờ đây cha con hội ngộ trong niềm vui dạt dào tình phụ tử. Cuộc viếng thăm ân tình với những lời khích lệ thân thương của Vị Cha Già đem lại cho con cái một niềm vui phấn khởi, gia tăng sức mạnh tinh thần nơi tâm hồn con cái. Là Vị Cha Già của các con cái tha phương, Cha Viện Trưởng rất nôn nóng đến thăm Đan Viện mới tại chỗ để am hiểu hoàn cảnh cuộc sống của con cái để khích lệ tinh thần và nếu cần hỗ trợ vật chất.
TIẾN VỀ PHƯỚC LÝ
Ở Tân Thành, tuy rằng vấn đề vật chất đất ruộng không thiếu, tình cảm với dân địa phương cũng nồng nhiệt. Nhưng với thời gian, nhiều khó khăn xuất hiện khó lòng vượt qua, nên một số các cha các thầy vì không thích nghi được với hoàn cảnh cụ thể, nên đã xin trở về Nhà Mẹ Phước Sơn. Đó là hai cha M. Silvester, M. Vitalia, và các thầy M. Egidio, M. Leo, M. Louis, M. Anton Padua, M. Roberto và M. Phêrô. Sau này ở Phước Lý thì cha M. Alberico, thầy Hardingo và thầy M. Ireneo cũng xin trở về Nhà Mẹ Phước Sơn, bấy giờ là tại Thủ Đức. Còn hai thầy Khấn tạm là thầy M. Adriano và thầy Luca thì hồi tục. Còn cha M. Xaverio thì chuyển lên Châu Sơn tại Đơn Dương. Trong thời gian Nhà Mẹ ở Thủ Đức thì có cha M. Augustino Nguyễn Văn Cựu, thầy M. Vincentio Nguyễn Văn Tình và thầy M. Assisio Lê Văn Nhẫn để tăng cường nhân sự và hỗ trợ cuộc sống của cộng đoàn.
Trong khoảng thời gian từ năm 1951 trở đi, tình hình chính trị của đất nước mỗi ngày mỗi biến chuyển phức tạp, gây mối lo âu cho Cộng Đoàn Nhà Mẹ ở Phước Sơn Quảng Trị. Cuộc nội chiến kéo dài đã bao nhiêu năm vẫn tiếp tục ngày một ác liệt và lan rộng, gieo rắc sự tàn phá cho quê hương và tang tóc cho bao nhiêu gia đình.
Hồi đó theo dõi tin tức thế giới hằng ngày, nhất là về chiến tranh Việt Nam, Đức Tổng Phụ Xitô Dom Sighard Kleiner ở Rôma đã linh cảm hoàn cảnh khó khăn nguy ngập của Phước Sơn. Để tiện liệu cho tương lai của Phước Sơn, Ngài đã ủy nhiệm Đức Cha Thadeo Lê Hữu Từ Giám mục Giáo phận Phát Diệm (nguyên Bề Trên Đan Viện Châu Sơn Nho Quan) tổ chức bổ nhiệm Bề Trên mới cho Phước Sơn, vì cha Bề Trên M. Bernard Mendibour đã già yếu lại là người ngoại quốc, không còn thích hợp cho giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ của đất nước. Hơn nữa ngài cũng xin từ chức vì nhiều lý do chính đáng. Ngày 07 tháng 10 năm 1951, Đức Cha Thadeo Lê Hữu Từ đã triệu tập và chủ tọa cuộc họp các cha Phước Sơn tại nhà bà cụ Nguyễn Hữu Bài ở Phủ Cam, Huế. Sau khi bàn bạc và tham khảo ý kiến các thành viên trong cuộc họp, Đức Cha đã bổ nhiệm  cha M. Emmanuel Triệu Chu Kim Tuyến làm Tân Viện Trưởng Phước Sơn thay thế cha già M. Bernard Mendibour. Biến cố này đã diễn ra đúng lúc, phù hợp với hoàn cảnh đương thời của đất nước. Như vậy, Cha M. Emmanuel Triệu Chu Kim Tuyến là vị Viện Trưởng Việt Nam đầu tiên, Vị Bề Trên thứ 3 của Nhà Mẹ Phước Sơn kể từ Cha Tổ Phụ.
Tiếp đó, ngày 26 tháng 10 năm 1951, cha Bề Trên Thiên Phước M. Casimir Hồ Thiên Cung cũng xin từ chức vì lý do sức khỏe. Chấp nhận ý nguyện thỉnh cầu này, cha Viện Trưởng Nhà Mẹ đã đề cử Cha M. Stanislas Trương Đình Vang thay thế Cha M. Casimir với trách nhiệm di chuyển Thiên Phước về Phước Lý tại thửa đất tỏa lạc giữa thôn Ông Kèo và thôn Xoài Minh, xã Phước Lý, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Sở đất này có diện tích 250 mẫu gồm đất ruộng và một khu rừng tràm, do Cô Tám Maria Trịnh Thị Dung, Giáo xứ Chợ Quán, Sài Gòn dâng cúng để lập Dòng. Đồng thời Cha Viện Trưởng cũng tăng cường nhân sự tháp tùng Cha M. Stanislas trong nhiệm vụ mới. Đó là Cha M. Berchmans Nguyễn Văn Quy, Thầy M. Martino Trần Văn Đổng và Thầy M. Gulielmo Nguyễn Văn NHơn. Thầy Gulielmo sau này đã xin trở về Nhà Mẹ Phước Sơn tại Thủ Đức, và sau Cách Mạng 30.04.1975 Thầy đã hồi tục.
Sỡ dĩ phải di chuyển Thiên Phước vể Phước Lý là vì tình hình chính trị lúc ấy ở Thiên Phước rất khó khăn, phức tạp, thêm vào đó là đất ruộng bùn lầy khó lòng xây cất những cơ sở vững chắc. Đang khi ấy thì ở Chợ Quán thuộc Quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh bây giờ, Cô Tám Maria Trịnh Thị Dung cùng với người Chị ruột là Cô Ba Maria Trịnh Thị Tiết, là hai chị em độc thân, sở hữu nhiều khu đất ruộng ở nhiều nơi. Từ năm 1945, hai chị em đã ôm ấp nguyện vọng hiến dâng khu đất ruộng tại Phước Lý cho Phước Sơn để lập Dòng, nhưng khi nguyện vọng chưa thành thì Cô chị Maria Trịnh Thị Tiết đã qua đời trước 1950.
Từ hồi tháng 11 năm 1950, Cha Cựu Bề Trên M. Casimir đã nghĩ đến thửa đất của Cô Tám Dung ở Phước Lý, nhưng lúc đó tình hình chính trị khó khăn, nên không đến Phước Lý như đã nói trên. Còn  lúc này tình hình ở Phước Lý đã êm hơn, nhưng trái lại ở Tân Thành thì tình hình chính trị lại trở nên phức tạp. Do đó, Hội Đồng Đan Viện Phước Sơn đã quyết định cần phải đời Thiên Phước về Phước Lý, về thửa đất Cô Tám Dung đã có ý định hiến dâng từ năm 1945. Quyết định này đã  làm cho Cô Tám Dung hết sức vui mừng.
Thế là cơ hội mong chờ đã đến, Cô Tám Dung sẵn sàng thực hiện ngay ý dịnh dâng đất lập Dòng, thỏa mãn được nguyện vọng của người chị quá cố.
Lãnh nhiệm vụ mới ngày 08 tháng 12 năm 1951 là ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tôi, đến ngày 15, tức là 1 tuần sau đó, Cha M. Stanislas và các vị tháp tùng lên đường vào Nam. Cuộc hành trình phải mất một tuần các vị mới đến Sài Gòn và dược Cha M. Alberico hướng dẫn đưa về tạm trú tại nhà Cô Tám Dung.
Ở đây thiết tưởng cũng hữu ích ghi lại một chi tiết sau đây để độc giả của các thế hệ tương lai được thông tin về Trụ Sở của 3 Nhà  tại đường Trần Bình Trọng. Nguyên nhà Cô Tám Maria Trịnh Thị Dung trước kia là một ngôi nhà cổ kính một lầu, nơi thường đón tiếp khách vãng lai là các cha các thầy Xitô và Đaminh. Sau này Cô Tám đã dâng ngôi nhà này cho Dòng Đa Minh và Dòng Đa Minh đã bán lại cho một ông chủ khác và ông chủ mới này xây lên một cao ốc ba tầng làm Trường Học. Nhưng chỉ một vài năm sau, trường đã giải thế và sang lại cho chủ khác để làm khách sạn. Sau Cách Mạng tháng 4/1975 khách sạn không còn nữa và ngày nay người ta đã tân trang lại để làm Trường Đại Học Kinh Tế. Bù lại, trước khi qua đời, Cô Tám đã xây một ngôi nhà rộng lớn hai tầng, bên cạnh nhà cũ, ngăn thành 3 để chia cho 3 Nhà Phước Sơn, Châu Sơn và Phước Lý làm Trụ Sở như ngày nay.
Sau một tuần dừng chân tại nhà Cô Tám, ngày 07 tháng 01 năm 1952 các vị đi thăm quan sở đất Phước Lý. Vùng Phước  Lý trong thời gian này là vùng “xôi đậu” ít có người vãng lại, vì ở đây thường xảy ra  những trận đánh ác liệt giữa quân đội Pháp và cách Mạng. Tuy nhiên, người ta cho biết là người dân vẫn sống yên ổn trong vùng này. Hồi đó từ Sài Gòn về Phước Lý phải di chuyển qua 3 đoạn đường, dài độ 25 cây só. Từ Sài Gòn Thủ Thiêm về Cát Lái đi chuyển bằng xe ngựa. Và từ Đại Phước xuống Xoài Minh phải vượt qua 7 cây số đường sỏi đá bằng đôi chân khập khểnh, là một hy sinh không nhỏ.
Sau một tuần tham quan, quan sát địa thể, các vị lại trở về Sài Gòn để làm thủ tục hành chánh, đăng ký nhập cư. Sài Gòn lúc bấy giờ ở dưới quyền người Pháp, nên phải đến cơ quan chính quyền Pháp để làm thủ tục đăng ký.
Một tuần tạm trú tại Phước Lý (Xoài Minh) các vị cũng gây được mối thiện cảm với dân địa phương. Dân chúng ở đây là người bên Lương, hầu hết là Phật Tử, rất đơn sơ, hiền hòa, sống nghèo nàn trong những căn nhà lụp xụp. Họ là những nông dân nghèo, đất ruộng chẳng có bao nhiêu, nên họ thường đi bắt ốc mò cua như nghề phụ để kiếm sống qua ngày.
Thủ tục hành chánh phải chờ một tháng mới hoàn thành. Ngày 03 tháng 02 năm 1952 các ngài trở lại Phước Lý khởi công xây dựng. Sau gần 10 ngày lao động, với sự trợ giúp thân tình của người dân Xoài Minh, ngôi nhà lá đầu tiên đơn giản, thô sơ, được dựng lên, đánh dấu từ đây sự hiện diện của các Đan Sĩ Chiêm Niệm tại một góc trời xa xăm, hẻo lánh, cô tịch. Căn nhà lá đầu tiên này đã ghi lại một kỷ niệm khó quên. Đó là dựng nhà trên nền cát không vững, nên một hôm bất ngờ nhà bị gió đánh sập, không may đập xuống đầu Cha M. Alberico gây thương tích trầm trọng máu me đầm đìa, phải nhờ đến quân xa Thành Tuy Hạ chở đi cấp cứu tại Bệnh viện Grall, Sài Gòn. Thôi thì bụng làm da chịu, biết  phiền trách ai bây giờ. Từ đó Cha M. Alberico được điểm thêm một vết sẹo duyên dáng trên đầu ít ai có.
Từ ngày được lệnh thuyên chuyển, anh em ở Tân Thành ráo riết chuẩn bị hành trang. Đúng ngày 01 tháng 05 năm 1952, lễ Thánh Giuse Thợ, Cộng Đoàn Thiên Phước rời bỏ Tân Thành, theo đường thủy trực chỉ Phước Lý. Đây là một biến cố gây không ít xúc động, tiếc xót cho kẻ ra đi  và người ở lại. “Ra đi là chết đi trong lòng một chút” người Tây Phương nói thế. Quả thật, ngày ông bà Chín Nghiệm đón tiếp  các Đan Sĩ đến trên mảnh đất của ông bà với niềm hân hoan tràn ngập bao nhiêu thì giờ đây sự ra đi của các Đan Sĩ cũng để lại cho ông bà nỗi niềm xót xa bấy nhiêu. Các Đan Sĩ là những con người như mọi người, nên cũng không khỏi bùi ngùi tấc dạ khi phải từ biệt những con người đơn sơ hào hiệp, những tấm lòng vàng hiếp có đã từng thương mến và nhiệt tâm giúp đỡ mình. Nhưng đó là chuyện thường tình của con người  cần phải biết khắc phục để có thể vươn tới những chân trời cao đẹp. Hơn nữa đối với các Đan Sĩ, đây là một cơ hội tốt để sống tinh thần siêu thoát, để ý thức hơn rằng đời là một cuộc hành trình liên lỷ, một cuộc ra đi không ngừng.
Cảm động trước tình cảm của ông bà Chín Nghiệm và giáo dân Tân Thành, Cha Bề Trên M. Stanislas đã nhã ý để Cha M. Casimiro và Thầy M. Ireneo tạm thời lưu lại Tân Thành một thời gian để trấn an mọi người và đồng thời có thời gian thu xếp đồ đạc. Cuối cùng trung tuần tháng 8 năm ấy, hai cha con cũng từ biệt Tân Thành để về đoàn tụ với anh em tại Phước Lý.
Thế là một giai đoạn trong thời gian lập Dòng mới đã kết thúc. Thiên Phước tại Tân Thành đã đi vào lịch sử và giờ này chỉ còn là một ý nghĩa gợi nhớ mông lung cho các thế hệ tương lai khi đọc tới lịch sử này. Sự ra đi của các Đan Sĩ cũng đã gây nhiều luyến tiếc cho bà con giáo dân tại chỗ. Nhiều dư luận bàn tán như hờn trách: người thì cho rằng “các thầy tham phú phụ bần”, Cô Tám Dung giàu hơn ông bà Chín Nghiệm”, kẻ khác lại nói “tốt lòng hơn tốt của” v.v… Thôi thì mặc cho đời Đức Kitô luận, hãy để cho đời phê phán tùy thích. Tuy nhiên đó là một dấu hiệu nói lên tâm tình quý mến của giáo dân Tân Thành đối với các Đan Sĩ, đồng thời là một niềm an ủi khích lệ cho những người ra đi, bởi lẽ cuộc sống của họ đã gây ảnh hưởng tốt  nơi người dân địa phương.
Giờ đây bắt đầu một cuộc sống mới tại Phước Lý và mọi sự lại khởi đi từ số không. Toàn thể anh em đều hăng hái tích cực bắt tay vào công việc xây dựng Cộng Đoàn. Buổi đầu xây dựng bao giờ cũng khó khăn về mọi mặt “vạn sự khởi đầu nan”, kinh nghiệm đời cho biết thế. Tuy nhiên anh em vẫn bình tĩnh vui tươi và nhiệt tình trong mọi công việc, dù vất vả nhọc nhằn và sống trong cảnh nghèo nàn đạm bạc.
Địa thế Phước Lý lúc bấy giờ thật là hoang vắng, cô tịch, ít có người vãng lai. Xa xa độ 2 cây số về hướng tây là những xóm nhà là nghèo nàn của ấp Xoài Minh, và gần hơn một chút về hướng đông là ấp Ong Kèo, cũng lác đác những căn nhà lá lụp xụp thô sơ. Trước mặt vài trăm thước là con đường cáo mà suốt ngày hầu như vắng tanh, thỉnh thoảng mới thấp thoảng một bóng người đi qua. Đây là con đường huyết mạch tiếp tế của quân đội Pháp đi từ thành Tuy Hạ đến những bót lính đóng dọc theo con đường cho đến Vũng Gấm  xã Phước An bây giờ, cách xa Đan Viện khoảng 8 giờ cây số. Còn phía sau là cánh đồng bỏ hoang từ bao giờ vì chiến tranh và tiếp đó là một khu rừng tràm trải dài hơn cây số, ven một dòng sông nhánh chạy từ Cát lái qua Ong Kèo và đổ ra biển Vũng Tàu. Bên kia giòng sông nhánh này là con sông lớn chạy từ Sài Gòn ra Vũng Tàu, là con đường thủy thông thường của những con con tàu lớn ra vào bến cảng Sài Gòn.
          Ngày tháng trôi qua êm đềm trong cuộc sống bình lặng trên một không gian cô tịch, có thể nói là một linh địa mà Thiên Chúa đã dẫn đưa con cái Ngài đến đây để ngày đêm từ giữa cảnh trời hoang vắng lồng lộng vang lên những đêm từ giữa cảnh trời hoang vắng lồng lộng vang lên những lời kinh tiếng hát chúc tụng Đấng Tối Cao. Tuy nhiên những con thử thách không phải không có. Cuộc sống luôn có những bất ngờ, những biến cố trắc không lường trước được. Xin ghi lại đây một biến cố nhớ đời đã xảy ra và gây ảnh hưởng tâm lý trầm trọng nơi các Đan Sĩ. Đó là biến cố đột xuất đêm 09 tháng 08 năm 1952. Chiều Chúa Nhật hôm ấy vào khoảng 3 giờ, một trận mưa như thác đổ, trút xuống trong 2 giờ liền. Thế là đêm ấy, có lẽ là do khí lạnh và ăn uống cách nào đó mà đến khoảng 9 giờ hầu hết mọi anh em đều được Tào Tháo đột xuất đến thăm hỏi kỹ càng. Trong chốc lát, đó đây từ khắp các phòng ngủ đều vang lên tiêng nôn ói mửa và tiếng rên rỉ nghe thật não nùng thê thảm. Khởi đầu là năm ba anh em, rồi trong vòng mười lằm phút thì hầu như cả nhà đều lâm vào trận chiến ác liệt: thượng thổ hạ tạ, ngay cả Cha Bề Trên cũng không thoát, đến độ không còn ai nguyên vẹn để cứu giúp ai nữa. Các cửa vào kho vàng đều bị trấn giữ, khiến một vài anh em trong tình thế cấp bách, buộc phải ngồi lúc nhúc lồng lộng giữa vườn. May mà đang đêm tối, họ chỉ thấy nhau lờ mờ. Thông cảm! Bị tấn công kịch liệt, đa số anh em đều khát nước nên gượng lết xuống nhà cơm tìm nước uống. Lúc ấy, Cha Bề Trên đang nằm bên mấy bao mối cho đỡ nguồn cơn. Thấy vậy, ngài liền khuyến cáo anh em, vì ngài biết rằng nước tại nhà cơm không mấy trong sạch, uống vào có nguy cơ trầm trọng hơn. Ngài khuyến cáo anh em cố gắng nhịn uống đến sáng ngày sẽ cho người bót ông Kèo xin nước lọc về uống. Trong tình thế ngặt nghèo này, chính cha Bề Trên kể lại, ngài tự cảm thấy vô cùng yếu đuối trước tai ương nguy khốn này. Ngài xuống nước, thẩm thỉ van xin Đức Mẹ cứu chữa con cái của Mẹ và hứu nếu Mẹ cứu giúp qua khỏi tai nạn này, thì sáng ngày mai sẽ dâng lễ tạ ơn Mẹ. Đang khi đó thì tiếng ói mửa vẫn không ngừng vang lên từ các phòng ngủ. Tuy nhiên sau một hồi lâu, những tiếng ói mửa dần dần thưa thớt và đến khoảng 12 giờ thì đâu đó đã lặng lẽ không nghe tiếng nữa. Tai hoạ đã qua đi, mọi người đều thoát nạn. Tạ ơn Mẹ dấu yêu!
Biến cố qua đi, nhưng hâu quả nó để lại khá trầm trọng. Trong vòng 3 tháng sau biến cố dịch tể này, nhiều anh em cảm thấy nản lòng, ưu tư, biếng ăn, mất ngủ và có những ý nghĩ bi quan tiêu cực. Lý do là vì họ nghĩ rằng nơi đây là chốn ma thiêng nước độc, nếu cứ ở lại đây có ngày tính mạng sẽ lâm nguy. Nghĩ như thế nên tinh thần họ bị chao đảo và cuối cùng họ đề nghị Cha Bề Trên là nên dời đi nơi khác, bằng không họ xin rút lui về Nhà Mẹ Phước Sơn. Trước hoàn cảnh này, Cha Bề Trên phải suy nghĩ rất nhiều và có phần bối rối, không biết phải giải quyết bằng cách nào cho hợp lý hợp tình: dời đi nơi khác thì khả năng tài chánh không cho phép, ở lại thì phải bóp bụng mà nghe tiếng than vắn thở dài, phải thấy những thái độ thất vọng chán chường, và có nguy cơ nhiều anh em sẽ lui về Nhà Mẹ Phước Sơn. Thật là tiến thoái lưỡng nan. Cuối cùng Cha Bề Trên đã nghĩ ra một diệu kế – có thể nói như vậy – dám liều một phen. Mà thật, nhờ đó ngài đã giải toả được cơn khủng hoảng. Ngài để cho anh em tự do đi quan sát khắp nơi nào lành mạnh và thuật lợi hơn thì sẽ dời Đan Viện tới đó. Dự định này cũng được cô tám dung đồng ý và hứa sẽ hỗ trợ tối đa. Riêng cha bề trên cùng 2 vị cố vấn cũng hành trình xa hơn với mục đích tìm một địa điểm thích hợp. các ngài đi xuống bà rịa Vũng Tàu, rồi ngược lên Bảo Lộc Lâm Đồng. Sau nhiều ngày lặn lỗi xuống miền biển, lên cùng cao nguyên, vất vẩ kiếm tìm, nhưng rút cuộc không tìm thấy được nơi nào vừa ý. Ngày tháng trôi qua trong thấp thỏm chờ đợi. Dần dà với thời gian mọi ý nghĩ bi quan cũng lắng dịu và nhờ ơn Chúa, không còn ai bàn tán gì nữa. Cơn khủng hoảng nhẹ nhàng qua đi, cuộc sống trở lại bình thường.
Ngày 01 tháng 05 năm 1952 anh em từ Tân Thành đã chuyển đến Phước Lý và từ đó Cộng Đoàn đã có mặt tại nơi đây. Tuy nhiên vẫn chưa được chính thức hội nhập vào Giáo Phận Sàigòn. Một năm sau, ngày 06 tháng 05 năm 1953 Đan Viện mới nhận được một bức thư Tào Giáo Mục Sàigòn cho phép lập Dòng tại Phước Lý. Từ đó cuộc sống được ổn định về mặt Giáo Quyền sở tại. Ba tháng sau, cùng năm ấy, nhằm đúng ngày 15 tháng 08 Lễ Đức Mẹ lên trời, Cộng Đoàn nhận được Sắc Lệnh Toà Thành chính thức chấp nhận việc lập Dòng mới. Thế là từ nay Phước Lý đã có tên trong danh sách các Dòng Tu trong Giáo Hội, một vinh dự lớn lao, đồng thời cũng là một trách nhiệm nặng nề. Liền sau đó ngày 20 tháng 08 năm 1953 Lễ Cha Thánh Bernard, Phước Lý chính thức khai mạc Tập Viện theo Giáo Luật. Từ nay Phước Lý có quyền thu nhận ứng sinh vào Dòng.
Kinh nghiệm người đời cho thấy rằng muốn cho con cái được hạnh phúc, cha mẹ phải chấp nhận nhiều hy sinh. Phải chăng ở đây chúng ta có thể nhìn sự việc trong viễn tượng đó. Nghĩa là niềm vui thành đạt của Phước Lý đã được trả giá bằng thử thách nghiệt ngã mà Nhà Mẹ Phước Sơn phải trải qua. Đang khi Phước Lý được hưởng một cuộc sống an bình và phát triển thì cũng trong thời gian năm 1953 Nhà Mẹ Phước Sơn lại gặp một tai hoạ nặng nề khủng khiếp như một cơn ác mộng. Cộng Đoàn ly tán, anh em chạy loạn, bơ vơ thất thểu tìm đường thoát thân. Biến cố quả là phủ phàng. Nhưng rồi quả đúng như người xưa thường nói “hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân”. Sau cơn mưa trời lại sáng. Chia lý rồi lại sum họp. Cuối cùng sau những ngày lưu lạc, tất cả các anh em đều được dẫn đưa an toàn vào tạm trú tại Toà Khâm Mạng ở Huế. Còn các vị Bề Trên thì trước đó đã được chính quyền Cách Mạng địa phương mời đi làm việc, nên phải tạm xa lìa anh em một thời gian. Qua biến cố này, anh em cảm nhận được bàn tay ân tình của Thiên Chúa đã hiến trọn cuộc đời để phụng sự.
Trong hoàn cảnh Nhà Mẹ vắng cấp lãnh đạo, ngày 13 tháng 06 năm 1953, Đức Tổng Phụ Xitô đã bổ nhiệm Cha Bề Trên M. Stanislas Trương Đình Vang tạm thời làm Bề Trên Quản Nhiệm (Adminstrator Apostolicus) để phục vụ anh em Nhà Mẹ. Quả đúng như linh cảm ban đầu của các Bề Trên, Phước Lý là chỗ dung thân tạm thời của Mẹ Phước Sơn lúc gặp nguy khốn. Để đảm bảo một tương lai ổn định, vị Quản Nhiệm đã đưa anh em Phước Sơn từ Toà Khâm Mạng Huế vào Phước Lý tam thời sinh sống, đợi thời cơ thuận tiện cho phép sẽ đi lập cư mới khác. Sau hơn 3 tháng tạm trú tại Phước Lý, anh em Phước Sơn đã di chuyển lên Gò Công, Thủ Đức.
Trở lại vấn đề Phước Lý, qua 2 năm sống trên vùng đất đồng ruộng ẩm thấp, anh em thấy vùng đất ruộng này không thích hợp cho sức khoẻ của anh em, hơn nữa việc kiến thiết những cơ sở kiên cố quả là khó khăn. Đang khi đó thì anh em nhìn thấy bên kia đường cái, đối diện với đan viện là một khu vườn rộng giống một đồn điền nhỏ, mặt đất bằng phẳng, rộng độ 20 mẫu tây, trồng quý, có giếng nước trong sạch rất lỡn, và anh em nghĩ rằng nếu tậu được khu đất này để kiến thiết Đan Viện thì thật là tuyệt vời. Thấy những ý kiến của anh em là thích hợp, Cha Bề Trên liền đi liên hệ với ông chủ đất người Pháp xin mua sở đất này.
Lúc này là thời gian quân đội viễn chinh Pháp chuẩn bị rút khỏi Việt Nam. Do đó, ông chủ đất người Pháp rất sẵn sàng bán lại khu đất nói trên cho Đan Viện với giá hữu nghị là 40.000 $ VN (hồi này giá vàng một cây là 2.500 – 3.000$). Đối với Đan Viện hồi đó, đây là một món tiền quá lớn làm sao với tới được. Hữu sự vái tứ phương, đó là thượng sạch được người đời mách bảo không phải là sai. Cha Bề Trên không ngại chịu đấm ăn xôi, đã ngỏ lời cầu viện với Đức Tổng Phụ Xitô Dom Sighard Kleiner vốn là Đấng rất thương con cái Việt Nam của Ngài, để xin Ngài chi viện ngân khoản này.
Trong dịp Đức Tổng Phụ sang thăm Hội Dọng Xitô Thánh Gia Việt Nam, năm 1954, Cha Bề Trên đã khéo lợi dụng thời cơ thuận tiện để đạt được mục đích. Ngài dẫn Đức Tổng Phụ đi tham quan sở đất nói trên và trình bày nhu cầu thiết thực của Phước Lý cầu tậu sở đất này để kiến thiết cơ sở Đan Viện. Đức Tổng Phụ nhận thấy đây là một nhu cầu chính đáng, nên đã đồng ý cung cấp số tiền để mua sở đất.
Thế là một lần nữa ngày 08 tháng09 năm 1954 anh em Phước Lý lại nhổ neo cuốn gói rời đất Cô Tám Dung để chuyển sang khu đất mới và bắt đầu xây dựng lại. Lần này chắc hẳn là dứt khoát cố định, không còn mơ ước dời đi nơi nào nữa.
Ban đầu anh em dựng những căn nhà thô sơ, sườn nhà bằng lại cây tạp, đốn tại rừng Ông Kèo, mái lợp lá, tường vách cũng lá. Ơ những căn nhà lá như vậy cũng có nét đẹp của nó, là giúp các Đan Sĩ ý thức sống và chia sẻ cảnh nghèo của biết bao người nghèo trên đất nước này.
Hồi ấy Nhà Mẹ Phước Sơn ở Gò Công Thủ Đức và Nhà Chị Châu Sơn ở Đại Phước cả hai đã có cơ sở bề thế, có nhà cửa xây cất vững vàng, đang khi Phước Lý vẫn những căn nhà lá xập xệ. Một hôm 2 vị Bề Trên ruột thịt đã nhất trí tihcs cức yểm trợ Phước Lý trong vấn đề này. Bề trên Nhà Mẹ Phước Sơn lúc ấy là Cha M. Bernardin Trần Phúc Dược, tình nguyện cung cấp xi măng, còn Bề Trên Nhà Chị Châu Sơn là Cha M. Berchmans Nguyễn Văn Thảo, củng hộ bộ sườn nhà bằng gỗ. Phần còn lại là trách nhiệm Bề Trên Phước Lý lo xoay trở lấy. Quả là tình Mẹ bao la và tình Chị đậm đà. Nhắc lại đây chi tiết này để hâu thế thấy được mối tình tha thiết mặn mà nối kết các nhà trong Hội Dòng phát xuất từ một nguồn gốc, là con cái cùng một mẹ.
NHỮNG BIẾN CỐ ĐỂ ĐỜI :
1.       MỘT ĐÊM HÃI HÙNG
Từ thời khai sinh đến cuộc Cách Mạng 30/04/1975, Phước Lý vấn sống trong một hoàn cảnh đặc biệt, ngoài vòng cương tỏa, giữa 2 thế lực đối kháng: một bên được mệnh danh là quốc gia, và bên kia là lực lượng cánh mạng. Thực tế thì ban ngày Đan Viện ở dưới sự kiểm soát của chính quyền Saigòn, còn ban đêm thì thuộc quyền Cách Mạng.
Năm 1955, quân đội Bình Xuyên dưới quyền chỉ huy của Trung Tướng Nguyễn Thành Phương, được chính quyền Saigòn điều động về trấn giữ vùng chiến thuật từ Cát Lái đến Vũng Gấm, xã Phước An, huyện Nhơn Trạch. Sự việc xảy ra là vào đêm 30 tháng 06 năm 1955, một toán lính Bình Xuyên đột nhập Đan Viện. Đầu tiên chúng ập vào nhà Đệ Tử, cách xa Đan Viện độ 100 m. chúng uy hiếp Cha Giám Đốc M. Gioan Nguyễn Văn Luận và khủng bố các em Đệ Tử. Chúng lục soát tất cả các vali của các em Đệ Tử và lấy đi những gì chúng muốn. Sau đó chúng trấn lột hết áo quần Cha Giám Đốc. Chúng bắt ngài dấn chúng vào Đan Viện. Đến nơi lúc các cha các thầy đang an giấc, chúng la hét ầm ỉ làm mọi người thức dậy kinh hoàng, nhốn nháo. Chúng tập trung các cha các thầy, dồn vào góc nhà, bên cạnh phòng Bề Trên. Mọi khuôn mặt đều xanh như tàu lá. Rồi chúng kè dao găm vào bụng Cha Bề Trên M. Stanislas Trương Đình Vang, đòi trao nộp cho chúng tất cả tiền nong vàng bạc Đan Viện có. Cha Bề Trên run lập cập, vội lấy chìa khóa mở tủ cho chung vơ vét, nhưng chẳng có là bao nhiêu. Đan Viện nghèo lại đang buổu đầu làm gì có nhiều tiền bạc.
Tất cả anh em đứng đó im lặng, chứng kiến hành động dã man của chúng, thấp thỏm lo sợ không biết việc gì sẽ xảy ra. Tạ ơn Chúa, có thế thôi, vì mục đích của chúng là tiền. Rốt cuộc cũng là những tên trộm lành, không phải là bọn cướp của giết người.
Thi hành xong thủ đoạn, chúng bỏ đi, nhưng không quên đe dọa nếu tiết lộ vụ này, sẽ bị đền mạng cả đám. Biến cố rùng rợ đã đi qua, Cộng Đoàn phải một phen hú vía hồn xiêu phách lạc.
Sau đó không lâu sự cố đến tai Trung Tướng Nguyễn Thành Phương. Đầy hối hận vì thuộc hạ hành động gian ác, ông đã gửi phái đoàn về điều tra vụ việc nhặm xử lý những tên lính côn đồ và bồi thường cho Đan Viện không những là những gì đã mất, mà còn đền hậu hỉ theo kiểu Giakêu. Thế là Đan Viện lại được nhờ. Tội hồng phúc là thế đó! Chỉ thương hại vị Giám Đốc Đệ Tử Viện là Cha Gioan Nguyễn Văn Luận, vì phải trải qua những giờ phút cựa hình thống khổ, buộc phải trở về tình trạng Adam Eva thời nguyên sơ, không một mảnh vải che thân.
2.       CON NGƯỜI ĐẾN NHƯ KẺ TRỘM
Đan viện Phước Lý tọa lạc trên khu đất hồi đó còn hoang vu chưa có người ở, chung quanh là cả một khu rừng, là giang sơn của những loại thú như heo rừng, hoảng, nhím, thỏ, chồn … Cũng như ở Phước Sơn hồi trước, các thầy thường đi săn bắn trong những khu rừng quanh vòng Đan Viện, tại Phước Lý cũng vậy. Thầy M. Gabriel Lê Thủy thường giữ cây xúng săn 2 nòng và thỉnh thoảng thầy cũng vác súng vào rừng săn bắn. Một sáng định mệnh sắp đến với thầy mà thầy không hay biết. Vào lúc 3 giờ sáng ngày 11 tháng 10 năm 1956, thầy M. Gabriel vác súng ra đi cùng với một Đệ Tử. Định mệnh đang chờ đợi thầy mà thầy chưa linh cảm được rằng đây là chuyến đi không trở về. Thầy trò bình thản đi vào khu rừng cách Đan Viện khoảng một cây sô. Lâu nay súng thì có đan thì không, nên thường là thầy tự tay chế đạn. Sáng hôm đó, không hiểu súng đạn thế nào mà lúc nhắm bắn con mồi thì viên đạn đã trúng đích hạ con mồi, nhưng rủi thay, cái vỏ đan đã giật lùi phóng mạnh ngay vào mắt thầy rồi hình như chạm sọ não. Vết thương trầm trọng dòng mãu phun ra quá nhiều, thầy ngãn lăn ra, ngất xỉu. Khi anh em trong nhà hay biết, chạy đến nơi thì thầy đã tắt thở. Thật đau xót! Mọi người nhờ lại lời Chúa Giêsu xưa: “Ai dùng gươm sẽ chết vì gươm” (Mt 26,52). Cây súng vô hồn kia còn nằm đó, nhưng ông chủ của nó đã trở thành bất động như nó. Đau buồn làm sao! Thầy M. Gabriel đã đột ngột ra đi không kịp nói một lời từ biệt Cộng Đoàn thân thương của Thầy. Tai nạn xảy ra trong chốc lát đã cướp đi mạng sống của một thành viên ưu ái của Cộng Đoàn. Thầy M. Gabriel không còn nữa, xin vĩnh biệt Thầy. Nguyện xin Cha nhân từ đón nhận Thầy vào chốn vĩnh phúc.
Như vậy Thầy Gabriel là người đầu tiên trong nhóm những vị tiền phong đi lập Dòng đã vĩnh biệt Cộng Đoàn và giờ đây ngôi mộ của Thầy cũng nằm ở vị trí đầu tiên nơi nghĩa địa của Đan Viện.
3. VĨNH BIỆT NGƯỜI RA ĐI
Từ lúc Cộng Đoàn đến lập cư trên sở đất Cô Tám Dung tại Phước Lý, thì mọi nhu cầu của anh em như lương thực, thuộc men, ý phục v.v… đều do Cô Tám cung cấp. Suốt thời gian 3 năm đầu, cứ mỗi chiều thứ bảy là các nhu yếu phẩm do Cô Tám chuẩn bị sẵn, được chở bằng thuyền từ bến Hàm Tử Chợ Quán và Thành Tuy Hạ – Đại Phước và từ đây quá giang quân xa về Đan Viện. Cô Tám đã đóng vai trò người mẹ nuôi ân cần cung phụng cho đoàn con với tấm lòng nhiệt thành cao độ. Không chỉ lo cho Phước Lý và sau này cả Phước Sơn và Châu Sơn, Cô Tám còn tận tâm giúp đỡ cả các cha Dòng Đa Minh và quý cha quý thầy dòng hay triều nữa. Quả là một tấm lòng bác ái vô biên giới.
Ngày 11 tháng10 năm 1959, Cô đã vĩnh biệt ra đi sau những ngày đau đớn vì bệnh ung thư. Con người ấy với quả tim vĩ đại và một niềm tin cao độ, đã hiến đời mình cũng như tất cả của cải vật chất cho công việc bác ai tông đồ, thật đáng cảm phục. Để đền đáp phần nào ơn nghĩa vô giá của con người đức độ ấy, ba nhà Phươc Sơn, Châu Sơn và Phước Lý cùng hợp tác tôt chức rất long trọng cuộc lễ An Táng của Cô. Thi hài Cô được cả một đoàn xe rước đi trên một khoảng đường dài 60 cây số, từ nhà thờ họ Chợ Quán qua Long Thành đến Đan Viện Phước Lý  và được chôn cất trong lòng Thành Đường Đan Viện. Đặc ân này đã được Đức Tổng Phụ Dom Sighard Kleiner chấp nhận với sự đồng ý của Hội Đồng Đan Viện.
Cô Tám Dung xứng đáng được ân huệ này, vì Cô đã đóng góp rất nhiều công của trong việc lập Dòng Phướng Lý: dâng hiến 250 mẫu ruộng và tiền bạc cùng với cả tấm lòng nhiệt thành giúp đỡ Phước Lý từ đầu cho đến ngày tạ thế. Do đó Cô được kể là Vị Đồng Sáng Lập Đan Viện Phước Lý. Từ nay và mãi mãi vào ngày Giỗ hằng năm ngày 11 tháng 10, Cộng Đoàn dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho Cô.
4. CUỘC VIẾNG THĂM HỮU NGHỊ :
Trời đã về đêm, Đan Viện đã lên đèn. Bên ngoài trời tối đen như mực, bầu khí thính lặng ban đêm bao trumg cả không gian Đan Viện. Bên trong Thánh Đường Giờ Kinh cuối ngày sắp kết thúc. Khi câu hát cuối cùng của bài thánh ca Salve Regina vừa dứt, thì từ phía dưới, một tiếng đập của đoàn quân Bồ Đội hừng hực tiến lên, đầu đội nón cối, cổ vấn khăn quàng đỏ, tay cầm súng, thao tác lắc cắc. Ai nấy đều hoảng sợ, run như Thần Tử thấy Long Nhan. Trời! VC, chết thôi! Cha Bề Trên vội bảo một Tập Sinh ở ngay trước mặt ngài quỳ xuống đọc 3 Kinh Kính Mừng xin Mẹ cứu giúp, những thầy ấp úng đọc chẳng nổi.
Lúc đó, một Tập Sinh nọ đang ngồi trên ghế đàn cánh Thánh Giá, vừa dứt tiếng đàn, trông xuống, thấy sự thể thì biết ngay là VC, liền ba chân bốn cẳng phóng như bay kịp ghé qua phòng ngủ lấy chiếc mền, rồi lom khom chạy ra một góc vườn, để chắc ăn, nằm gọn vào giữa đám có tranh chờ đời nghe ngóng. Thầy nghĩ bụng “phen này chỉ mình thoát làm sao đây, lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi giờ này”. Thầy vừa nằm vừa run, tim đập phành phạch, chỉ mong trời mau sáng. Ôi sao đồng hồ chạy chậm quá! Giờ này Cộng Đoàn ra sao rồi. Đang suy nghĩ mông lung như thế, thì bỗng hồi chuông Đan Viện vang lên. Rõ ràng đây là hồi chuông thức dậy 2 giờ. Nhưng có thực không, mình đang tỉnh hay mơ … Thì ra mọi chuyện đã kết thúc từ lâu rồi, ai nấy đã thở phào nhẹ nhõm và đã an giấc từ lúc 11 giờ đêm. Đoàn Bồ Đội Cách Mạng chỉ đến thăm hữu nghị thôi. Lúc ập cửa vào họ chỉ thị uy thôi. Rồi họ lên đứng giữa hai Ca Toà, có cả nữ đồng chí nữa. Họ nhã nhạn chào và hỏi thăm sức khoẻ quý cha quý thầy. Rồi họ nói chuyện về tình hình chính trị của đất nước, về việc quân địch xâm lăng xứ sở, giết hại đồng bào, tàn phá quê hương và họ kêu gọi quý cha quý thầy đứng về phía Cách Mạng, đấu tranh chống lại bọn đế quốc xâm lược. Vì họ nghĩ là địch có dấu vũ khí trong Đan Viện, nên họ yêu cầu một thầy dẫn họ đi lục soát các nơi, và họ tịch thu khẩu súng san hai nòng thầy M. Gabriel để lại. Có thế thôi, may quá, cảm ơn Bộ Đội Cách Mạng.
Trước khi rút lui, họ không quên nhăn nhủ các cha các thầy hãy phấn đấu tu hành cho đắc đạo, cầu nguyện cho tổ quốc, rồi họ đến ôm hôn Cha Bề Trên và mấy thầy gần đó. Chúa ơi, Bộ Đội Cách Mạng dễ thương quá, vậy mà lâu nay người ta đồn là VC dữ lắm, hễ gặp là họ chặt cổ ngay, mạng người họ chẳng coi là gì hết.
Đó là cuộc viếng thăm hữu nghị của đoàn quân Cách Mạng. Vì không được báo trước mà lại đột xuất ập vào ban đêm với khí giới dữ dằn, ai mà không sợ, nên đã làm cho các cha các thầy một phen hú vía hồn bay lên mây!
MỘT LUỒNG GIÓ MỚI
Theo quy định của Hiến Pháp Hội Dòng số 60,2 thì Bề Trên Nhà Mẹ cứ 2 năm một lần đi tuần viếng Nhà Con. Còn Đức Tổng phụ thì đi tuần viếng Nhà Mẹ và có thể viếng các nhà trong toàn Dòng nếu được yêu cầu. Việc tuần viếng nhằm mục đích khích lệ và củng cố đời sống đan tu của các Cộng Đoàn, chỉnh đốn những lệch lạc trong hướng đi của Đan Viện, giải quyến những vấn đề cần đến quyền hạn của Đấng Thanh Tra.
Năm 1954 là lần đầu tiên Đức Tổng Phụ Xitô Dom Sighard Kleiner từ Roma sang tuần viếng các Đan Viện Việt Nam. Trong thời gian này Hội Dòng Thánh Gia chưa chính thức, nên các Đan Viện trong Hôị Dòng đều trực tiếp thuộc quyền mục vụ của Ngài. Do đó, Ngài có bổn phận tuần viếng các Đan Viện trong Hội Dòng. Trong dịp này Phước Lý rất vui mừng, vinh dự được đón tiếp Đấng Thanh Tra tối cao của Dòng. Ngài là người Ao Quốc, sống trong một xã hội văn minh Châu Au. Hôm nay lần đầu tiên đạp chân đến đất Phước Lý, ngài không quỳ xuống hôn đất Phước Lý theo kiểu Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong những chuyến công du mục vụ, mỗi lần đặt chân xuống phi trường một đất nước, ngài đều quỳ xuống hồn đất, để tỏ lòng tôn trọng quý mến đất nước này. Ơ đây Đức Tổng Phụ rất xúc động khi nhìn thấy hoàn cảnh Phước Lý, ở một góc trời xa xôi hẻo lánh, nghèo nàn, nhà cửa lụp xụp, một trời một vực so với nhà cửa ở bên Châu Au của ngài. Tuy nhiên đối với ngài, cảnh nghèo khó, thô sơ của Phước Lý lại có nét đẹp là gợi lại cho ngài các hình ảnh thân thương về cảnh sống của các Tổ Phụ Xitô thời khai sáng. Một điều lý thú làm tôi nhớ đời là trong một bữa ăn tối, các thầy dọn cho ngài một món ăn đặc sản của Phước Lý, bạn biết món gì không? Là những lát trái điều lộn đột chấm măn tôm. Quả thật các thầy Phước Lý quá siêu! Tôi quan sát rõ ràng thấy ngài vừa nhai vừa nhăn mặt. Chắc hẳn ngài không biết các thầy Phước Lý đãi ngài món gì đây quá đặc biệt của Việt Nam mà trong đời ngài chưa từng thấy ở đầu trên cói đời này. Món đặc sản này chỉ Phước Lý mới có. Còn Phước Sơn, Châu Sơn dễ gì có được, mà chắc hẳn cũng không hề nghĩ rằng Phước Lý lại có món trời ơi đó. Cũng như sau này năm 1998 khi Đức Tổng Phụ Mauro Estava đến thăm Phước Lý nhìn thấy con trăn ngài khiếp đảm và từ dó ngài có ấn tượng về Phước Lý.
Trong thời gian tuần viếng Phước Lý, ban ngày ngài ở với Cộng Đoàn, ban đêm ngài về nghỉ ở Châu Sơn tại Đại Phước, vì thời đó tình hình an ninh ở Phước Lý không bảo đảm đối với người ngoại quốc. Trong dịp tuần viếng này Đức Tổng Phụ đã nâng cấp Phước Lý lên quy chế Đan Viện tự trị (Prioratus sui juris), đồng thời ngài cũng chấm dứt chức vụ Bề Trên Quản Nhiệm của Cha M. Stanilas đối với Nhà Mẹ Phước Sơn vì Phước Sơn đã ổn định và có Bề Trên chính thức rồi.
Sau hơn một tháng rưới kinh lý các Đan Viện Việt Nam, ngài trở về Rôma.
Cuộc tuần viếng đầu tiên này của Đức Tổng Phụ Xitô đã đem lại cho Cộng Đoàn Phước Lý những ân huệ quý hoá cần thiết: nâng cấp Đan Viện lên quy chế tự trị và qua bản tuần viếng ngài củng cố tinh thần của cộng đoàn, đem lại cho Cộng Đoàn một luồng sinh khí mới.
Hồng Ân Thiên Chúa Bao La
Phước Lý cho đến hôm nay vẫn chỉ với những cơ sở khiêm tốn, tối thiểu. Công trình quan trọng vẫn chưa có diều kiện và khả năng để thực hiện. Đó là ngôi Thánh Đường, trung tâm của Đan Viện hay có thể nói là thiên đàng trần gian của các Đan Sĩ. Nơi đây ngày đêm các Đan Sĩ họp nhau tôn thờ,ca tụng Thiên Chúa như các thần thánh trên trời . vậy mà cho đến hôm nay ngôi nhà thánh thiêng này mới chỉ được tạm xếp thu hẹp trong một căn nhà nửa làm phòng ngủ, nửa làm nhà nguyện (hiện thời là ngôi nhà đầu tiên khi bước chân đến Tập Viện). Vì tầm quan trọng của nó, nên dù hoàn cảnh nghèo, ngân khoản chưa có, cũng nên khởi công, ít nhất với nghi thức đặt viên đá đầu tiên, nếu không sẽ mãi mãi chẳng bao giờ có được ngôi Thánh Đường. Đó là ý kiến chung của Cộng Đoàn. Thế là một phương án được thành hình, và ngày 13 thàng 11 năm 1956 ngày lễ Bổn Mạng của Cha Bề Trên, nghi thức làm phép đặt viên đá đầu tiên được cử hành, đánh dấu công trình kiến thiết Thánh Đường đã khởi sự.
Bởi lẽ không có một ngân khoản sẵn để chi phí, nên không kĩ sư, không nhà thầu, chỉ có một đốc công không cấp bậc, chỉ có chút ít kinh nghiệm về nghệ thuật xây cất thời đó. Thánh Đường có chiều kích là rộng 13 mét, dài 16 mét và cao 11 mét. Đặt móng xong trong vòng 3 tháng, rồi ngưng việc vì chưa có ngân quỹ, phải đợi một năm sau mới lại tiếp tục thi công và mãi đến giữa năm 1959, tức phải gần 3 năm công trình mới hoàn tất.
Tạ ơn Chúa! Giờ đây Cộng Đoàn đã có được ngôi Thánh Đường khang trang để ngày ngày các đan sĩ tập họp 7 lần cử hành Phục Vụ, chúc tụng ngợi ca Thiên Chúa và dâng Thánh Lễ.
Trong lúc công trình kiến thiết Thánh Đường đang thi công thì Đan Viện lại có thêm một niềm vui nữa. Đó là việc bổ nhiệm Bề Trên vĩnh viễn theo Hiến Pháp Dòng. Vì từ đầu đến hôm nay, dầu đã được đặt làm Bề Trên Phước Lý, và nhà Phước Lý đã được nâng lên thể chế tự trị (sui juris) từ năm 1954, nhưng Cha Bề Trên M. Stanislas vẫn chưa được chính thức hợp pháp theo Hiến Pháp Dòng. Vì thế ngày 15 tháng 4 năm 1958 Cha Bề Trên nhà Mẹ là Dom M. Emmanuel Triệu Chu Kim Tuyến đã đến chính thức bổ nhiệm Cha Bề Trên  M. Stanislas làm Bề Trên vĩnh viễn Đan Viện Phước Lý theo Hiến Pháp Dòng Xitô. Nghi thức bổ nhiệm được cử hành tại phòng Hội. Sau đó Cộng Đoàn rước vị Bề Trên của mình vào Phòng Nguyện, hát Te Deum tạ ơn Chúa, đoại lại rước ngài trở về phòng Hội để vị chủ toạ trao chìa khoá Đan Viện cho ngài. Tiếp đó các cha và các thầy có lời khấn, khấn lại trong tay ngài.
Ba tháng sau vào ngày 01 tháng 9 năm 1958 Cộng Đoàn hân hoan tiễn ngài lên đường đi tham dự Đại Hội Dòng Xitô tại Roma.
Tháng 11 năm 1960 trong dịp Đức Tổng Phụ Xitô sang thăm các Đan Viện Việt Nam, Phước Lý đã long trọng tổ chức lễ khánh thành và Cung Hiến Thánh Đường do Đức Tổng Phụ và Đức Giám Mục Saigòn là Đức Cha Simon Hoà Nguyễn Vắn Hiền, phối hợp chủ sự. Đây là một cuộc lễ hết sức long trọng đánh dấu một biến cố đặc biệt trong trang sử của Đan Viện, nghi khắc vào tâm hồn anh em dấu  ân huệ tình thương của Chúa đối với Cộng Đoàn: Thánh Đường là trung tâm của Đan Viện nơi các Đan Sĩ cử hành Phụng Vụ, lãnh nhận các Bí Tích và cử hành việc tuyên khuấn. Thánh hiến Thánh Đường là biểu tượng linh thiêng sự thánh hiến tâm hồn các Đan Sĩ trong Đan Viện này, để mỗi lần bước vào Thánh Đường, các Đan Sĩ ý thức đây là nơi thánh, và chính tại nơi đây mình đã được thánh hiến, nhờ đó các Đan Sĩ được nhắc nhở trong cuộc sống dâng hiến của mình.
NÂNG CẤP ĐAN VIỆN
Kể từ ngày khai sinh đến nay, trải qua những bước đi chập chững khó khăn cửa buổi đầu, hôm nay Phước Lý đã trưởng thành và phát triển khả quan về mọi mặt. Do đó đã đến lúc các Bề Trên trong Hội Dòng thầy cần xúc tiến việc đệ lên Toà Thánh thỉnh nguyện nâng cấp các Đan Viện trong Hội Dòng chính thức trước toàn Dòng cũng như trước mặt Giáo Hội và nâng các Đan Viện lên thể chế Đan Phụ Viện. Trong thời gian chờ đợi, các nhà ráo riết chuẩn bị tinh thần anh em đón nhận ân huệ này. Cuối cùng thì thỉnh nguyện nói trên đã được Toà Thánh chấp nhận. Thật là một ân huệ lớn lao, một niềm vui khôn tả cho Hội Dòng Thánh Gia.
Trong dịp kinh lý các Đan Viện Việt Nam năm 1964, Đức Tổng Phụ Xitô Dom Sighard Kleiner đã đến thực hiện Sắc Chỉ Toà Thánh  nâng các Đan Viện Phước Sơn, Châu Sơn và Phước Lý chính thức thành Hội Dòng Xitô Thánh Gia và các Đan Viện được nâng lên thành Đan Phụ Viện. Thế là lần lượt các nhà tổ chức bầu Viện Phụ tiên khởi. Đây là một biến cố trọng đại, đánh dấu sự trưởng thành của Hội Dòng Thánh Gia.
Riêng đối với Phước Lý, ngày 25 tháng 2 năm 1964 Đức Tổng Phụ chính thức đến viêng thăm Phước Lý và chủ toạ việc bầu Viện Phụ và Cha Bề Trên M. Stanislas đắc cử Viện Phụ tiên khởi Phước Lý. Dầu vậy nghi thức công bố Sắc Chỉ Toà Thánh nâng cấp Đan Viện Phước Lý lên thể chế Đan Phụ Viện và vị Bề Trên lên Viện Phụ chỉ được cử hành ngày 05 tháng 03 năm 1964 do Cha Bề Trên Nhà Mẹ Dom M. Emmanuel Triệu Chu Kim Tuyến. Biến cố trọng đại mà bao con tim Đan Sĩ tổng Hội Dòng mong mỏi đợi chờ nay đã đến: đó là ngày Lễ Chúc Phong 3 Tân Viện Phụ tiên khởi của 3 nhà Phước sơn, Châu Sơn và Phước Lý. Ngày 19 tháng 03 năm 1064 Lễ Cha Thánh Giuse, Đức Tổng Phụ Xitô Dom Sighard Kleiner đã long trọng cử hành Lễ Chúc Phong 3 Viện Phụ Việt Nam tại Vương Cung Thánh Đường Saigòn. Sỡ dĩ cuộc lễ được tổ chức tại Vương Cung Thánh Đường Saigòn là vì đây là Lễ Chúc Phong các Viện Phụ là những Vị Giám Chức, nên sẽ có đông các Giám Mục Việt Nam tham dự, mà các Đan Viện thì ở cách xa nhau quá, việc đi lại của các vị cũng như của anh em 3 nhà sẽ gặp kho khăn. Hơn nữa không Đan Viện nào có Thánh Đường rộng rãi và có khả năng tiếp đón cac Giám Mục cũng như các quan khách, các đoàn thể và giáo dân đông đảo. Do đó chọn Vương Cung Thánh Đường Saigòn là đẹp hơn cả.
Đây là một cuộc lễ lớn chưa từng có đối với Hội Dòng Thánh gia. Trong bầu khí từng bừng hân hoan của buổi lễ, những hồi chuông của Vương Cung Thánh Đường một chiều vang lên rộn rã cả một khung trời thành phố Saigòn, khiến bao tâm hồn Đan Sĩ tràn ngập niềm vui náo nức đến độ muốn ào lên khóc.
Cả 3 nhà Phước Sơn, Châu Sơn và Phước Lý cũng phối hợp tổ chức cuộc lễ và tiếp tân rất chu đáo. Buổi lễ diễn ra rất long trọng, nghiêm trang và sốt sắng phi phường. Đến tham dự buổi lễ có Đức Tổng Giám Mục Sàigòn là Đức Cha Phaolô Nguyễn Văn Bình, Đức Ông De Nitis, Tham Vụ Sứ Thần Toà Thánh, 7 Giám Mục, và các Bề Trên các Dòng Tu nam nữ, nhiều quan khách, đoàn thể và đông đảo giáo dân.
Cuộc đại lễ này làm cho giáo dân Saigòn cũng như bao nhiêu người khác biết được phần nào về Hội Dòng Xitô Thánh Gia, con cái của Cha Tổ Phụ. Và chắc hẳn Cha Tổ Phụ giờ phút ấy ở trong “lòng Abraham” rất vui mừng chứng kiến những công lao vất vả của mình đâm bông kết trái giữa lòng Giáo Hội.
THA HƯƠNG TẦM ĐẠO
Vào những năm sau cuộc đại di cư vào miền Nam năm 1953, trong giời trẻ của Nhà Mẹ Phước Sơn, có 2 gương mặt sáng chói nổi bật giữa các đồng nguyện, được Đức Tổng Phụ Xitô Dom Sighard Kleiner bảo trợ sang du học Thuỵ Sĩ. Đó là Thầy M. Ephraem Bích và Thầy M. Gioan Lâm, là 2 chú cháu họ Vương nổi tiếng tại địa phương là giòng họ trí thức. Lúc ấy Nhà Mẹ Phước Sơn trong tình mẫu tử  bao la, đã vui lòng san sẻ cho nhà con Phước Lý một Thầy như là gia tài của mẹ để lại cho con, đó là Thầy M. Ephraem. Thế là ngày 21.03.1954 Thầy M. Ephraem cùng với Thầy M. Gioan lên đường du học tại Đại Học Fribourg, Thuỵ Sĩ.
Nhưng rồi Thầy M. Gioan được chuyển sang Roma vào Đại Học Saint Anselmô của các Cha Dòng Biển Đức, theo khoa thần học. Mãn khoá Thầy trở về Friboủg chịu chức Linh Mục. Sau đó trở lại Roma dọn luận án tiến sĩ Thần Học và tiếp đó là vào khoa Kinh Thánh. Thành tích tối cao của Cha là Tiến Sĩ Thần Học và Cử Nhân Kinh Thánh. Hồi hương về Việt Nam năm 1963, cha được cử làm Giám Đốc Đệ Tử Viện. Đến năm 1970 cha đắc cử Viện Phụ Hội Trưởng,
Còn Thầy M. Ephraem ở lại Đại Học Fribourg. Sau khi chịu chức Linh Mục ngày 06.01.1959, Cha tiếp tục học và thành tích cuối cùng của Cha là Cử Nhân Thần Học và Cử Nhân Triết Học. Hồi hương và Phước Lý ngày 17.10.1961, cha được cử làm Tập Sự, rồi Giám Đốc Đệ Tử Viện. Đến cuối năm 1967 cha rời bỏ Phước Lý, sang làm Bề Trên Dòng Đức Mẹ Người Nghèo tại Saigon.
Cha  M. Ephraem là vị khoa bảng đầu tiên của Phước Lý. Từ đó mở đường cho các thế hệ đàn em tiếp tục được gửi sang du học Fribourg.
Ngày 11.04.1961 Thầy M. Bernard Nguyễn Đình Long, sau khi mãn khoá Triết Học tại Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế tại Đà Lạt, được gởi sang Fribourg theo học Thần Học. Chịu chức Linh Mục xong, cha tiếp tục học và đạt thành tích cuối cùng là Cử Nhân thần Học. Hồi hương ngày 18.01.1965, cha phục vụ Cộng Đoàn đến năm 1979 thì được chọn trong nhóm 2 đi lập nghiệp tại An Phước, Lòng Thành và từ trần ngày 03.04.1988 sau cơn bệnh tai biết mạch mãu não.
Thánh 06 năm 1962 Thầy M. Montfort Nguyễn Vinh tiếp tục được gởi sang Fribourg. Đối với Thầy M. Montfort đã có chuyện rắc rối trước khi xuất ngoại. Sau khi đậu Tú Tài Toàn Phần thì theo lệnh chính quyền Saigòn Thầy phải nhập Trường Võ Bị Thủ Đức, nhưng chỉ trong vòng gần một tháng, thì nhờ Đức Tổng Phụ Xitô can thiệp, Thầy được xuất Trường, trở về Phước Lý và được gởi sang Đại Học Fribourg, Thuỵ Sĩ. Trong suốt 7 năm Thầy theo khoa Triết Học và Thần Học. Chịu chức Linh Mục xong, cha chở lại khoa Triết và đạt thành tích cuối cùng là Cử Nhân Thần Học và Cử Nhân Triết Học. Cha hồi hương cuối năm 1969.
Ngày 18 tháng 04 năm 1964, hai Thầy M. Monzaga Lê Văn Nhạc Và M. Trần Ngân được gửi tiếp sang Fribourg. Sau 4 năm Thầy M. M. Monzaga bị bệnh nhức đầu mãn tính, nên trở về Phước Lý và sau hơn 3 tháng Thầy xin chuyển sang Đại Chủng Viện Saigòn, tiếp tục học và chịu chức Linh Mục. Hiện giờ là Cha Sở họ Chợ Quán. Còn Thầy Ignatio thì vào đại học, theo một khoá sinh ngữ, và sau đó và khoa thần học. Mãn khoá thần học và văn bằng cử nhân, ngày 15.08.1969 Thầy chịu chức Linh Mục. Trong thời gian này, Cha có dịp tham dự một khoá bồi dưỡng bình ca tại Đan Viện Solesme. Cha hồi hương về Phước Lý năm 1970.
Đợt thứ 5 là 2 Thầy M. Damiano Trần Minh Công và M. Bruno Phạm Xuân Thu được gởi sang Đan Viện Hauterive, Fribourg. Nhưng chưa được một năm thì Thầy M. Bruno xin hồi tục. Còn Thầy M. Damiano thì vào Đại Học Fribourg. Mãn khoá Triết Học và Thần Học, Thầy chịu chức Linh Mục. Thành tích học vấn cao nhất của Cha là Cử Nhân Thần Học. Hiện giờ Cha là Tuyên Uý cho Dòng nữ Xitô Frauenthal ở Đức.
Hai đợt cuối cùng là năm 1972 Thầy M. Celestino Phạn Tiến Trung và năm 1973 Thầy M. Baptista Trần Văn Chuyên. Nhưng rồi ít lâu sau đó Thầy M. Celestino xuất Dòng. Còn Thầy M. Baptista thì vào Đại Học Fribourg. Hồi còn ở Việt Nam Thầy đã theo khoa Triết Học tại Học Viện Đa Minh Thủ Đức và theo khoa Văn Chương tại Đại Học Văn Khoa Saigòn. Mãn khoá Thần Học tại Fribourg với văn bằng Cử Nhân Thần Học, Thầy chịu chức Linh Mục ngày 08.04.1978. hiên giờ cha Bề Trên Đan Viện Orsonnens, Thuỵ Sĩ.
Trên đây là những vị được gửi đi du học tại Fribourg, Thuỵ Sĩ, một quốc gia có những Đan Viện Xitô truyền thống, cố kính. Hy vọng những người con của Phước Lý có điều kiện học hành rộng rãi, có cơ hội sống và tiếp cận với nêp sống đan tu truyền thống, để rồi trở về Phước Lý góp phần tích cực xây dựng Cộng Đoàn.
DIASPORA
Cuộc Cách Mạng Giải Phóng 30.04.1975 đem lại nền độc lập hoàn toàn cho đất nước Viện Nam. Tuy nhiên 30 năm chiến tranh tàn phá đã để lại cho tổ quốc nhiều khó khăn, đặc biệt là khó khăn về kinh tế. Giờ đây toàn dân phải cùng nhau đoàn kết nỗ lực xây dựng lại quên hương.
Trong khí thế hừng hực của phong trào lao động sản xuất do Nhà Nước phát động, đồng bào mọi giới, kể cả giới tu hành nam nữ, đều xăn tay vén áo, tay cuốc tay cày, hăng say lao động sản xuất trong ý thức khẩu hiệu “với sức người sỏi đá cũng thành cơm”.
Trong tình thế đó, để hoà mình với đồng bào cả nước và đồng hành với dân tộc, Cộng Đoàn Phước Lý đã tình nguyện bung ra đi tìm đất cắm dùi, tăng gia sản xuất nhằm đẩy mạnh nền kinh tế Đan Viện, khắc phục những khó khăn hằng ngày.
Sau một cuộc họp hội ý của toàn thể Cộng Đoàn, hai nhóm anh em được hình thành, tạm rời Nhà Mẹ Phước Lý ra đi.
Nhóm thứ nhất do Cha M. Montfort Nguyễn Vinh (đang là Tập Sư) hướng dẫn, gồm 3 tập sinh với một ông dòng ba. Nhóm này về vùng kính tế Xuân Sơn, thuộc Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Lâu nay sống trong Đan Viện, êm đềm no ấm, giờ này đi vào cuộc sống người dân lao động, mưa nắng dãi dầu, đầu tắt mặt tối, thật vô cùng nghiệt ngã cho những người con của Đan Viện còn non nớt, chưa một lần phải tự lực mưu sinh. Buổi đầu trong cuộc sống mới quả là khắc nghiệt, tiền không, gạo chẳng có, nên bữa đói bữa no, cơm bo bo, cơm độn mì, nuốt trầy cổ mà vẫn ngon. Những con người mà vài năm trước đây là những thư sinh mày râu nhẵm nhụi, áo quần bảnh bao, nhưng giờ này đã trở thành những bộ “mặt phong trần nắng rám mùi dâu”. Tuy nhiên đó là những kỉ niệm quý báu cho cuộc đời. Rồi với thời gian cần cù lao động, nhóm này đã phát triển khả quan về vật chất và nhân sự, đã cung cấp cho Nhà Mẹ một Linh Mục và nhiều ơn gọi khác.
Nhóm thứ 2 do Cha M. Ignatio Trần Ngân, bấy giờ là Ca Trưởng, dẫn đầu, với 2 Cha là: Cha M. Bernard Nguyễn Đình Long, Cha M. Laurentio Nguyễn Văn Chính và 2 Thầy M. Antôn Đặng Chín và M. Alberico Trần Văn Tảo với 1 tập sinh là Thầy Châu Minh Trương Phúc Ai. Nhóm này đến cắm dùi tại An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Đây là một địa điểm đẹp nên thơ, trên có rừng, dưới có ruộng, bên cạnh một giòng suối chảy róc rách bốn mùa. Nhóm này tuy may mắn có đất ruộng, nhưng ruộng thì phèn, đất là đất cát, bao nhiêu công sức vất vả đầu tư vào đó, nhưng kết quả chẳng được bao nhiêu, nên cuộc sọng cũng tất khó khăn. Thêm vào đó là nhiều thử thách nghiệt ngã: có lần Cha Trưởng Nhóm lâm bệnh ngặt nghèo, cửu tử nhất sinh, tưởng chừng như sắp sửa ra đi. Nhưng ơn Chúa đã cho ngài bình phục. Chưa hết, lần khác, ngài gặp tai nạn giao thông, ngã nằm ngất xỉu, sọ não chấn thương, nhưng may mắn là chấn thương nhẹ, nên cuối cùng Chúa cũng cho vượt qua an toàn. Rồi Cộng Đoàn nhỏ bé này có lúc kinh tế kiệt quệ, lương thực không còn, đến độ phải đi gõ cửa những tấm lòng hào hiệp để sống qua ngày.
Sau những chật vật kho khăn, rồi với thời gian nhóm này đã phát triển mạnh mẽ về mặt vật chất và nhân số. Nhóm đã cung cấp cho Nhà Mẹ khá nhiều ơn gọi.
Sự quan phòng của Thiên Chúa thật kỳ diệu. Hai nhóm này đã ra đi vì lý do kinh tế, chính trị, lại trở thành 2 thửa vườn ươm giống để rồi cung cấp cho Nhà Mẹ Phước Lý dồi dào ơn gọi.
Những thập niên sau 1975 Phước Lý chỉ thêm được 2 Linh Mục, nhưng là để bủ 2 Linh Mục đã qua đời. Do đó Cộng Đoàn thiết hụt Linh Mục, nên việc huấn luyện gặp nhiều khó khăn. Giờ này hoàn cảnh đất nước đã ổn định, ơn gợi tại Phước Lý gia tăng dồi dào, nên nhu cầu nhân sự cho công tác huấn luyện lại càng khẩn thiết. Vì thế, trong khoá họp năm 1995, Tổng Hội đã yêu cầu Phước Lý rút cả 2 nhóm Xuân Sơn và An Phước và lại Phước Lý để tăng cường và bảo đảm công tác huấn luyện trong Cộng Đoàn. Những giải pháp tạm thời được áp dụng cho vấn đề này trong những năm sau Tổng Hội. Nhưng vẫn không thoả mãn được nhu cầu và ý nguyện của Cộng Đoàn. Phải đợi đến năm 1999 Tổng Hội mới yêu cầu  Phước Lý giải quyết dứt điểm vấn đề 2 nhóm. Cuối cùng theo nguyện vọng của Cộng Đoàn và được Tổng Hội  bật đèn xanh thì Phước Lý đã đi đến quyết định: duy trì sở An Phước với kết hoạch là trong tương lai khi Phước Lý dồi dào nhân sự thì sở An Phước sẽ trở thành nhà con. Còn sở Xuân Sơn thì giải thể. Hiện đã nhờ báo Công Giáo và Dân Tộc đăng quảng cáo bán sở Xuân Sơn và đang đợi khách hàng.
PHƯỚC LÝ QUA BỐN THỜI LÃNH ĐẠO
Người ta thường nói “quan nhất thời, dân vạn đại”. Đó là quy luật của lịch sử, không ai sống mãi để có thể ngồi yêu trên một chức vị từ thế hệ này đến thế hệ khác. Đời người chỉ là một khoảng thời gian vắn vỏi trong vĩnh cửu bất tận. Con người chỉ xuất hiên trong cuộc sống một thời gian rồi biến đi. Lịch sử Đan Viện Phước Lý từ thời sơ khai đến hôm nay đã vượt qua một khoảng thời gian nửa thế kỷ, trong đó đã có 4 vị lãnh đạo nối tiếp nhau hương dẫn Cộng Đoàn.
Trước hết vị Bề Trên tiên khởi là cố Linh Mục M. Casimiro Hồ Thiên Cung hướng dẫn Cộng Đoàn buổi đầu trong thời gian ở Tân Thành, từ ngày 23.10.1950 đến 16.10.1952. Ngài là một Đan Sĩ gương mẫu. Cuộc sống cá nhân của ngài rất nhiệm nhặt, trung thành tuân giữ Luật Dòng rất căn kẽ. Trong những giờ huấn đức anh em, ngài luôn nhân mạnh: “Chúa là tất cả. Chính Chúa quý hơn ơn Chúa”. Đó là điệp khúc ưu ái của cha, là xác tín nền tảng, là từ tưởng chủ đạo cuộc sống của cha. Nhờ đó cha có một cuộc sống rất siêu thoát theo tinh thần Thánh Phaolô: “Kẻ hưởng dùng của cải đời này như không hưởng dùng, vì bộ mặt thế gian này đang biến đi” (1 Cr 7, 31). Cha luôn giữ một thái độ chiêm niệm như Tu Luật dạy: mặt luôn cúi xuống đất (12 bậc Khiêm Nhường, đoạn 7). Trong khi tiếp xúc với anh em, cha luôn vui vẻ, hiền từ, nói năng dịu dàng. Những ai đến với cha đều cảm thấy một sự bình thản của một Đan Sĩ có tâm hồn an vui.
Thánh 6 năm 1991, lúc Dòng Nữ Xitô từ Phước Lý chuyển lên Ngọc Đồng, Hố Nai, cha được phái đi theo để làm linh hướng cho các chị. Cuộc sống của cha rất đơn sơ, khiêm tốn và gương mẫu đối với các chị. Ngày ngày, dẫu sức khoẻ rất tồi tệ, cha vấn đi lao động, lúc thì vác cỏ trong vườn hay làm sạch các lối đi, lúc thì chăm sóc chính đốn hàng rào quanh Đan Viện. Các ngày thứ Bảy và những ngày áp lễ lơn, cha vấn chịu khó ngồi toà giải tội cho giáo dân hằng giờ. Thái độ sống đơn sơ dễ dàng của cha tạo niềm tin và lòng cảm mến nơi mọi người đối với cha, và ngay cả chính quyền cũng rất thiện cảm và kính nể cha. Sau gần một năm phục vụ các chị Dọng Nữ, sức khoẻ cha có phần sa sút và càng ngày càng xuống cấp. Vì thế ngày 25.04.1992 cha được đưa trở về Cộng Đoàn Phước Lý để thanh thản chuẩn bị cuộc hành trình vĩnh cửu của cha. Quả thực 2 tuần trước ngày cha vĩnh biệt ra đi, sức khoẻ cha đã cạn kiệt và ở trong tình trạng giống như cây nến chỉ còn leo lét với những giọt dầu cuối cùng, nên cha được đưa vào Nhà Liệt. Chiều hôm trước ngày cha mất, như linh cảm được giờ ra đi đã gần, nên cha yêu cầu thầy giúp kẻ liệt đẩy xa đưa cha đi một qua các nhà như để nhìn lại lần cuối và vĩnh biệt những căn nhà trân giàn thân yêu. Thầy giúp kẻ liệt cho biết là đi qua các nơi cha không nói gì nhưng vẻ mặt cha thật tươi vui lạ thường. Tấm hình chụp cha lúc đó nghi lại nét mặt thần hông hào của cha. Sáng ngày hôm sau dù đã kiệt sức, nhưng (với sự giúp đỡ của Cha Phó M. Laurent) cha còn cố gượng cử hành Thánh Lễ cuối đời. Lễ xong một lát là cha tắt thở. Một cuộc ra đi vĩnh viễn thật tuyệt vời! Cha ra đi để lại cho Cộng Đoàn tâm gương sàng của một Đan Sĩ thánh thiện. Đó là một con người, một Đan Sĩ đã triệt để trung thành với Chúa trong ơn gọi đan tu.
Vị Bề Trên thức hai của Phước Lý là Cha M. Stanislas Trương Đình Vang, được bổ nhiệm thay thế Cha Bề Trên M. Casimiro từ ngày 26.10.1952 đến ngày 19.03.1971. đúng hơn Cha là vị Bề Trên khởi đầu kiến thiết Đan Viện Phước Lý. Cha có công đặt nền tảng cho việc xây dựng Đan Viện Phước Lý từ đầu, từ hạ tầng cơ sở đến việc ổn định về mặt pháp lý đạo đời. Cha được chúc phong Viện Phụ tiên khởi của Phước Lý ngày 19.03.1964 và lấy khẩu hiệu là “Respice stellam et voca Mariam”, lời bất hủ của Cha Thánh Bernado. Cha thi hành chức vụ đến năm 1970 thì xin hưu và sau đó một năm Cha thọ bệnh và qua đời ngày 03.07.1971.
Hơn một lần Đức Cố Viện Phụ M. Stanislas cho biết hồi ở Phước Sơn lúc còn là Thầy, ngài vinh dự được làm một trong những môn đệ thân tín của Cha Tổ Phụ, được Cha Tổ Phụ hướng dẫn và dạy Thần Học. Vì có giọng hát oanh vàng truyền cảm, nên khi Cha Tổ Phụ sắp từ trần, ngài đã cho gọi Thầy M. Stanislas đến bên gường để hát cho ngài nghe, đặc biệt là bài thánh ca “Jesu dulcis memoria”.
Cộng Đoàn Phước Lý ghi nhớ công ơn Đức Viện Phụ  M. Stanislas như là Đấng Sáng Lập Đan Viện. Thi hài của ngài được chôn cất giữa lòng Thánh Đường Đan Viện.
Sau khi Viện Phụ M. Stanislas Trương Đình Vang từ chức, Cộng Đoàn đã bầu Cha M. Gioan Nguyễn Văn Luận là Bề Trên (07.10.1970). lúc này vì những lý do thực tế, Cộng Đoàn xin được tạm trở lại thể chế Viện Trưởng với nhiệm kỳ 6 năm.
Biến cố Cách Mạng 30.04.1975 thay chủ đổi ngôi, đất nước bước sang một trang sử mới, ảnh hưởng khá nhiều đến sinh hoạt của Cộng Đoàn. Trong lúc tình hình chính trị sau 30.04.1975 chưa ổn định và hoàn cảnh còn khó khăn, thì các Bề Trên các Nhà trong Hội Dòng được yêu cầu lưu nhiệm. Tuy nhiên đối với Phước Lý, thì sau hai nhiệm kỳ của Cha Viện Trưởng Gioan, vd đã cùng nhóm họp bầu Bề Trên dưới quyền chủ toạ của Đức Viện Phụ Hội Trưởng M. Gioan Vương Đình Lâm. Trong cuộc bầu cử ngày 08.10.1982, Cha M. Montfort nguyễn Vinh đã đắc cử Viện Trưởng. Nhưng lúc này Ngài đã thường trú tại Xuân Sơn, cần phải chuyển hộ khẩu về Phước Lý mới chính thức lãnh đạo Cộng Đoàn. Trong thời gian chờ đợi, Cha Casimirô được uỷ nhiệm xử lý thường vụ từ ngày 14.01.1983.
Năm 1984, sức khoẻ của Cha M. Casimirô suy sụp trầm trọng, không thể thi hành nhiệm vụ được và Cha M. Montfort cũng không về được Phước Lý. Do đó, vì nhu cầu Cộng Đoàn, nên ngày 11.03.1984 Đức Viện Phụ Hội Trưởng, sau khi thăm dò ý kiến Cộng Đoàn, đã đặt Cha M. Gioan làm Bề Trên Giám Quản với đầy đủ mọi quyền hạn của một Bề Trên Thượng để phục vụ Cộng Đoàn.
Cha Viện Trưởng M. Gioan là vị có công lớn trong việc cứu mạng và chào đời của Dòng Nữ Xitô. Sau khi Tổng Hội Bật đèn xanh cho cac Cộng Đoàn có thể thí nghiệm lập Dòng Nữ Xitô, thì năm 1972, Cha Viện Trưởng M. Gioan đã đệ đơn thỉnh nguyện lên Đức Giám Mục Giáo Phận Xuân Lộc là Đức Cha Giuse Lê Văn An, xin được phép thí nghiệm Dòng Nữ trong Giáo Phận. Và đơn thỉnh nguyện đã được chấp thuận. Từ đó Cha Viện Trưởng M. Gioan cùng với Cộng Đoàn Phước Lý tích cực hoạt động để hình thành Cộng Đoàn Dòng Nữ. Buổi đầu Cha Cha Viện Trưởng quy tụ cac nữ ứng sinh về tại Trụ Sở Bãi Dâu, Vũng Tàu, và chính ngài tổ chức và hướng dẫn sinh hoạt của các chị với sự hỗ trợ của chị Cécile Dòng Kín Huế. Đến năm 1973 thì Dòng Nữ được chuyển về Phước Lý và cũng ở dưới quyền điều khiển của Cha Viện Trưởng (Xin xem Lịch Sử Dòng Nữ để được thông tin chi tiết rõ ràng).
Trong thời gian Dòng Nữ Xitô ở tại Phước Lý và chưa có Bề Trên thực thụ, thì Cha Viện Trưởng M. Gioan được Đức Giám Mục Giáo Phận Xuân Lộc uỷ nhiệm làm Bề Trên Đặc Trách Dòng Nữ từ ngày 22.05.1975 đến khi Dòng Nữ chính thức có Bề Trên là ngày 08.12.1982.
Xin ghi nhận thêm ở đây là từ khi Đức Nguyên Viện Phụ Hội Trưởng Dom M. Emmanuel Triệu Chu Kim Tuyến về nghỉ hưu tại Phước Lý ngày 21.08.1971, thì Đức Giám Mục Giáo Phận cũng như Hội Dòng đã yêu cầu ngài hỗ trợ Cha Viện Trưởng M. Gioan trong công tác huấn luyện các chị em Dòng Nữ. Ngài được uỷ nhiệm làm Tuyên Uý Dòng Nữ từ ngày 08.12.1973. Trong thời gian này ngài tích cực đóng góp trong công tác huấn luyện các chị cho đến ngày ngài tạ thế 04.05.1987.
Còn đối với Cha Viện Trưởng M. Gioan, dù không còn làm Bề Trên Đặc Trách Dòng Nữ, nhưng ngài vẫn được Đức Viện Phụ Hội Trưởng Dòng Xitô Thánh Gia tín nhiệm và yêu cầu tiếp tục giúp đỡ Dòng Nữ về mặt tinh thần cho đến lúc ngài ngã bệnh và qua đời.
Cha Cố Viện Trưởng M. Gioan là một con người vốn bản tính hiền lành và khiêm tốn. Ngài đã chọn thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu làm Bổn Mạng riêng, vì rất hợp với “khẩu vị ” của ngài. Ngài đặc biệt sùng kính và sống theo con đường tiểu lộ của Chị Thánh.
Ngày 08.01.1989 dưới quyền chủ toạ của Đức Viện Phụ Hội Trưởng M. Gioan Vương Đình Lâm, Cộng Đoàn đã họp bầu Bề Trên. Trong phiên họp bầu của lần này, Cha M. Montfort Nguyễn Vinh lại đắc cử Viện Trưởng. Lúc này tình thế đã sáng sủa hơn, nên Cha M. Montfort dù hộ khẩu còn ở Xuân Sơn, nhưng cũng được dễ dàng trở về Phước Lý Lãnh đạo Cộng Đoàn với nhiệm kỳ 6 năm. Mãn nhiệm đầu năm 1995, cha tình nguyện ở lại Phước Lý để phục vụ Cộng Đoàn cho đến hôm nay.
Trong những năm qua với thể chế Viện Trưởng, từ thời Cha Cố Viện Trưởng M. Gioan Nguyễn Văn Luận, anh em trong Cộng Đoàn cảm thấy như thiệt thòi và mất mát một cái gì đó. Vì vậy lần bầu cử này, Cộng Đoàn yêu cầu được trở lại thể chế Viện Phụ, và Cha M. Ignatio Trần Ngân đã đắc cử Viện Phụ với nhiệm kỳ 10 năm. Lúc này ngài vẫn còn hộ khẩu thường trú tại An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, chính quyền đã dễ dàng cho ngài về lại Phước Lý lãnh đạo Cộng Đoàn. Ngài là Viện Phụ thứ 2 của Phước Lý thi hành chức vụ từ ngày 25.01.1995, và lễ Chúc Phong Viện Phụ được cử hành ngày 01.06.1995 tại Đan Viện.
Lịch sử Đan Viện Phước Lý chưa kết thúc, nhưng đến đây tác giả tự cảm thấy hụt hơi, nên xin dừng lại và mong có vị khác sẵn sàng viết tiếp. Chắc chắn trong nội dung những trang trên đây còn nhiều thiếu sót, nhưng đó là tất cả những thông tin tác giả nắm được cũng như đã là nhân chứng từ hồi Cộng Đoàn Phước Lý khai sinh. Mong độc giả thông cảm và bổ sung cho đẩy đủ.
                   Phước Lý, ngày 23 thàng 10 năm 1999
                            M. Montfort Nguyễn Vinh
Posted 5th January by 
Bài này đã được đăng trong ĐV Phước Lý. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s