BÀ TÁM DUNG, NGƯỜI NỮ TU LẬP DÒNG PHƯỚC LÝ

Tamdungchukimtuyen2

Lê Bảo Tịnh xin gửi đến quý độc giả bốn phương ít dòng chia sẻ về một người phụ nữ đã đóng góp nhiều công lao với Dòng Xitô Phước Lý từ thưở sơ khai mới lập dòng. Theo như George Santayana có nói một câu cũng khá đầy đủ ý nghĩa : “Cảm thông, tình thương và lòng trắc ẩn là một trong những tuyệt tác của tâm hồn”. 

Ai đã từng ở trong Dòng Xitô Phước Lý cũng đều nhìn thấy và hiểu được chút ít về cái mồ nằm lọt trong lòng nhà thờ, phía dưới giáo dân… Ngôi mộ đó chính là nơi an nghỉ cuối cùng của Bà Tám Dung với đầy đủ tên gọi và thánh hiệu là :

Bà Maria Trịnh Thị Dung,

sinh năm 1890, qua đời : 11 – 10 – 1959,

an táng trong thánh đường Tu viện Xitô tại Phước Lý

ngày 15 – 10 – 1959.

Ai cũng biết Bà Tám Dung là người đã cho đất để các cha dòng Xitô lập dòng tại Phước Lý, nhưng không hiểu tại sao bà lại được vinh hạnh có một không hai, là được chôn cất trong Thánh Đường của một dòng nam khổ tu thuộc quyền Giáo Hoàng vào thời trước Công Đồng Vatican II đang khi Bà chỉ là một phụ nữ đạo đức bình thường và có lòng bác ái lớn lao khi dâng hiến gần như trọn vẹn gia tài của mình cho công cuộc truyền giáo của Giáo hội xuyên qua Hội dòng XiTô Thánh Gia Việt Nam.

Trong một dịp may, tình cờ tôi gặp đựợc anh Chánh, người ở gần trụ sở nhà dòng. Nhà anh và trụ sở dòng có chung một con số ; đó là số 81 D  Trần Bình Trọng , Quận 5, ĐT : 0932068124.

Anh Chánh là cháu ngoại ông Trịnh Khánh Ân mà ông Ân là người em thứ 9 của Bà Tám Dung, và anh Chánh gọi Bà Tám là Bà Cô Tám.

Nếu nói về bà con dòng họ thì anh Chánh là người cháu gần nhất của Bà Tám mà tôi biết được. Gặp được tôi và biết được ý định muốn ghi lại chút ký ức về người đại ân nhân của dòng, anh hăm hỡ trao cho tôi tờ tóm lược gia phả dòng họ Trịnh, và vài tấm ảnh trắng đen về ngày tang lễ của Bà Tám mà gia đình anh đã cất giữ trên 50 năm nay.

I. GIA PHẢ :
 Ông Sơ   : Trịnh Khánh Vân
Ông Cố   : Trịnh Khánh Tấn : Khai khẩn ruộng hoang
Bà   Cố  : Lê thị Gương (cháu thánh Matthêu Lê văn Gẫm, gọi bằng bác)
Ông Trịnh Khánh Tấn là cha của :
Bà cô Ba        : Trịnh thị Tiết
Ông bác Bảy : Trinh Khánh Nhẫn
Bà cô Tám     : Trịnh thị Dung
Ông Chín       : Trịnh Khánh Ân
Ông Mười      : Trịnh Khánh Nghĩa
Ông Trịnh Khánh Ân  (Hình 1) có con là  :
Trịnh Thị Ngọc (Hình 2)
Trịnh Khánh Phát (Hình 3)
Bà Trịnh thị Ngọc (Hình 4) là mẹ của anh Chánh.
– Anh Chánh  (Hình 5) cho biết là vừa liên lạc được với bà Nguyễn thị Nghĩa, (Hình 6) là người cận kề Bà Tám và ở gần bên bà lúc bà sắp lìa đời. Bà Nghĩa hiện ở 759 Đường Nguyễn Xiển, Phường Long Thánh Mỹ, Quận Thủ Đức, ĐT :0907164407.

– Sau đó, anh dẫn tôi lên Thủ Đức để gặp Dì Út của anh, bà tên là Lê thị Thọ, (Hình 7) hiện ở 952/43, đường Tỉnh Lộ 43 phường Bình Chiểu, Thủ Đức. ĐT : 0908316928. Dì Út gọi Bà Tám Dung là cô Tám.

– Tiếp đến , anh dẫn tôi đến Bà Đỗ thị Truyền (Hình 8), vợ của ông Trịnh Khánh Phát, cậu Bảy của anh. Bà gọi Bà Tám là Cô Tám, hiện ở 126, Trần Bình Trọng, ĐT : 0839242969.

Qua cuộc tiếp xúc của 4 người, vừa là bà con, vừa là người thân cận của Bà Tám Dung trong hơn 50 năm về trước, chúng tôi có một cuộc chuyện trò đối thoại về Bà Tám đầy thú vị như sau :

2. CÁC NHÂN CHỨNG HƠN 50 NĂM VỀ TRƯỚC

a/. Bà Nghĩa cho biết, bà tên là Nguyễn thị Nghĩa, con của bà Đỗ thị Hiểu (vừa qua đời cách nay 2 năm , 2010), ở kế bên nhà Bà Tám, hiện nay là dãy nhà phía sau trụ sở 81 Trần Bình Trọng.

Bà Hiểu là bạn của Bà Tám Dung, có gởi Bà Tám cô con gái nhỏ là cô Nghĩa ngay từ lúc lên 7 để đi học, và cô Nghĩa được ở bên Bà Tám cho đến năm cô được 17 tuổi thì Bà Tám mất.

Thời gian gần gũi Bà Tám của cô Nghĩa trên dưới 10 năm chắc cũng đủ để có những nhận xét về Bà Tám trong cuộc sống như thế nào .

b/. Bà Thọ : Lê thị Thọ, là con ông Trịnh Khánh Ân cho biết, hồi còn nhỏ, lúc lên 3, đang ở với vú nuôi, được cô Tám Dung gọi về sống với cô Tám để học đạo và giữ đạo cho tốt, nhưng bà Thọ “sợ” học … nên không chịu về và thỉnh thoảng có về thăm cô, được cô nhắc nhở việc giữ đạo cho đàng hoàng.

c/. Bà Truyền là cháu dâu của Bà Tám Dung, gọi Bà Tám là Cô và chính Cô Tám đã lo chuyện đám cưới cho bà . Sau đó bà cũng thường về thăm cô Tám và thấy có nhiều cha thầy ngoài Bắc vào ở nhà Bà Tám. (Hình 8)
Thế là có cuộc gặp gỡ riêng từng người để lắng nghe những chuyện của Bà Tám mà xưa nay chưa nghe ai nói tới cũng như nghe được những nguyện vọng của  gia đình sau hơn 50 năm ngày Bà  Tám mất và được chôn cất trong thánh đường Đan viện Xitô Phước Lý.

 – Các Bà có nhận xét gì về đời sống đạo đức của Bà Tám ?

Bà Nghĩa : Bà Tám sống một mình, không ăn xài bậy bạ, có lòng thương người và hay giúp đỡ người nghèo, nhất là người sa cơ thất thế.

Tôi thấy Bà hay đăm chiêu, mắt nhìn về một hướng như đang cầu nguyện hay nghĩ ngợi về một tương lai xa vời nào đó …

Đôi lúc Bà cũng hay la rầy mấy cậu em vì những chuyện trái khuấy trong gia đình.

Đặc biệt, Bà rất quý mến các cha, các thầy ở Nhà Chung hoặc các cha Dòng, các Sơ dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán. Bà thường biểu hiện lòng quý mến đó bằng những việc giúp đỡ cách cụ thể như dâng cúng tiền bạc, cũng như tổ chức nơi trú chân cho các cha, các thầy khi lên Sài Gòn không có chỗ trú chân để đi học hay đi công việc.

Trong nhà, Bà dành 1 phòng đặc biệt để các cha dâng lễ và 1 phòng ăn dài để các cha các thầy dùng cơm. Ngoài ra Bà cũng bố trí các phòng thật rộng để các cha các thầy ngủ lại.

Bà Truyền :  Cô Tám thường khuyên con cháu phải giữ đạo đàng hoàng.

Bà  Thọ : Nhờ Cô Tám nhắc nhở :”Con phải cố gắng giữ đạo đàng hoàng để cho con và cho ba con được lên thiên đàng”. Nhớ lời Cô dặn, tôi đã cố gằng giữ đạo, sống đạo và giúp đỡ cho những người chung quanh mình ; cũng như tập sống theo gương của cô là hay giúp đỡ các cha, các thầy, tôi cũng thường đóng góp để xây dựng giáo xứ của mình cũng như các giáo xứ nghèo ở vùng xa.

Anh Chánh : Theo lời ông ngoại tôi kể lại : bà Cô tôi từ nhỏ cho đến lúc trưởng thánh, trước sau như một, vẫn ở vậy một mình, không chồng con. Bà rất đức độ, thương người gặp hoàn cảnh khó khăn, và nhanh nhẹn ra tay giúp đỡ những ai khốn khổ hoạn nạn.

Những lúc gặp má tôi, Bà thường khuyên bảo:”Con phải lo giữ đạo hạnh cho tốt, nhất là kính Chúa, yêu người”.

– Các Bà có biết tại sao Bà Tám có nhiều đất đai không ?

Bà Nghĩa : Gia đình Bà Tám giàu có 3 đời rồi, cũng may đến đời Bà thì dâng cúng rất nhiều cho nhà dòng.

Gia đình Bà giàu có là do công khai khẩn ruộng hoang, chứ không phải là địa chủ, địa tô như một số người nhỏ mọn, ác ý đặt chuyện.

Bà Thọ : Ông bà ngày xưa vừa khai khẩn đất hoang cũng như hay tậu ruộng vườn các nơi, sau đó chia đều cho con cháu. Riêng Cô Ba và Cô Tám là 2 người con gái ngoan hiền, không ăn xài chi hết nên tài sản vẫn còn nguyên

– Lý do nào mà Bà Tám hiến đất cho dòng Phước Lý?

Bà Nghĩa : Như đã nói, Bà rất mến các cha, các thầy, nhất là các đấng tu dòng. Thời gian đó, các cha dòng Xitô muốn lập một nhà trong miền nam mà xuống Trà Vinh thì không được an ninh nên muốn về vùng Phước Lý, trong đất của Bà Tám, nên nhờ sự tư vấn của các cha dòng ở Sài Gòn, dòng Xitô đã cử cha Bề trên là cha Stanislas Trương Đình Vang, trực tiếp đến xin Bà khu đất Phước Lý. Biết được việc đó, bà chẳng những bằng lòng mà lại vui lòng nữa vì được dâng tặng cho dòng là dâng tặng cho Chúa.

Bà Thọ : Cô Ba và cô Tám có nhiều tiền của và dùng tiền đó để giúp cho các cha các thầy dòng Xitô. Có lẽ đây là gương lành mà gia đình dễ bắt chước. Ví dụ như ba tôi, ông Trịnh Khánh Ân cũng dâng cúng cho nhà thờ Chợ Quán 1 cái chuông lớn. Còn tôi, hôm nay cũng noi gương Cô Tám và Ba, cũng thường xuyên giúp  cho các xứ nghèo vùng xa.

Bà Truyền : Việc làm của Cô Tám rất hay là vì Cô đã biết dâng của cải tiền bạc của mình cho nhà dòng là cho Chúa thì của cải đó, trước mặt Chúa không bao giờ mất cả. Còn những người khác, có đất đai cũng nhiều, nhưng nhà nước trưng thu hết, chỉ trả cho hai chục đồng 1 mẫu vì chủ trương người cày có ruộng … từ đó, đất đai của dòng họ dần dần mất hết.

Anh Chánh : Bà Cô tôi có kêu má tôi về và cho má tôi một căn nhà kế bên nhà của Bà. Má tôi không nhận vì lý do : thứ nhất vì căn nhà rộng quá mà ở một mình thì má tôi sợ; thứ hai, má tôi và cậu tôi cũng được một số đất đai ruộng vườn khá nhiều, cho nên má tôi không muốn nhận thêm nữa. Sau đó má tôi có nghe nói Bà Tám đã hiến cho Nhà Dòng căn nhà ở khoảng đất trống, kế bên nhà Bà ở, bây giờ là trụ sở tu viện Xitô.

Những tài sản của ông bà cố tôi chia lại cho Bà Cô tôi đều được Bà sinh lợi trong việc giúp người nghèo và dâng hiến cho  Nhà Dòng để tạo công đức cho con cháu sau nầy.

chukimtuyến

Sẵn đây, chúng tôi trích đăng 1 phần về việc hình thành Dòng Phước Lý do Viện Phụ Emmanuel Chu Kim Tuyến ghi lại trong cuốn “Hạnh tích cha Benöit” : 

“Theo tác giả cuốn “Hạnh tích cha Benöit [một linh mục thừa sai thuộc Hội Truyền giáo Paris [MEP], Đấng sáng lập Hội dòng Xitô Thánh gia Việt nam], thì ngày 23-10-1950, Cộng đòan Thánh Mẫu Phước Sơn, tại Quảng Trị [của chính Đấng Sáng lập] đã cử một phái đoàn gồm linh mục Viện Phó Casimiro Hồ Thiên Cung, làm trưởng phái đòan, cùng với 4 linh mục, một thầy 6 và 14 đan sĩ, đi vào miền Nam xúc tiến việc lập dòng mới.

Sau 3 tháng quan sát tình hình và thăm dò địa thế, phái đoàn đã chọn được địa điểm thích hợp ở Mặc Bắc, trong phạm vi giáo họ Tân Thành, thuộc Giáo phận Vĩnh long. Đó là sở đất 50 mẫu ruộng, tọa lạc tại giao điểm hai giòng sông Vàm Cỏ và Hậu Giang. Phong cảnh địa hình tại đây rất hữu tình. Hai giòng sông giao nhau như biểu tượng cuộc gặp gỡ giao duyên giữa thiên nhiên và các đan sĩ, như điểm hẹn ân tình của Đấng Quan Phòng và con cái Ngài, khiến phái đoàn có được duyên may gặp được chủ ruộng hào hiệp sẵn sàng dâng hiến cho đại sự của Thiên Chúa. Quả là một địa điểm thuận lợi mà Cha trên trời dành cho con cái Ngài. Thế là các đan sĩ vui mầng tạ ơn Chúa và an tâm khởi công xây dựng cuộc sống mới.

KHÚC NGOẶT LỊCH SỬ. Ở Tân thành, Mặc Bắc, tuy rằng vấn đề vật chất đất ruộng không thiếu, tình cảm bà con địa phương cũng nồng hậu, nhưng với thời gian, nhiều khó khăn xuất hiện khó lòng vựợt qua, đặc biệt là tình hình chính trị phức tạp. Thêm vào đó ngày 26-10-1951 cha trưởng đoàn xin từ chức vì lý do sức khỏe.

Đứng trước những khó khăn ngặt nghèo của cộng đoàn mới và sự từ chức của vị trưởng đoàn, cha Viện trưởng nhà Mẹ Phước Sơn đã chấp thuận sự từ chức và quyết định cử cha Stanislas Trương Đình Vang thay thế. Nhiệm vụ của vị này là di chuyển Dòng mới về Phươc Lý tại sở đất tọa lạc giữa Thôn Ông Kèo và thôn Xoài Minh, thuộc xã Phước lý nay là Đại Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Sở đất này có diện tích 286 mẫu, gồm đất ruộng và một khu rừng tràm, do hai chị em cô Trinh Thị Tiết và Trinh Thị Dung, thuộc giáo xứ Chợ Quán, Sài gòn, dâng cúng để lập dòng.

Thực ra thì sở đất Phước lý này, từ năm 1945, hai chị em nói trên đã có ý nguyện dâng hiến cho dòng Phước Sơn để lập dòng, nhưng vì tình hình chính trị đất nước thời bấy giờ chưa cho phép. Nhưng đến lúc này thì tình hình đã sáng sủa khả quan, nên các đan sĩ ở Tân Thành cảm thấy rất thuận lợi để được di chuyển về Phước Lý hầu cuộc sống được ổn định và bình an hơn.

Đúng ngày 01-05-1952, lễ Thánh Giuse Thợ, cộng đoàn Tân Thành chính thức rời bỏ Tân Thành, theo đường thủy, trực chỉ Phước Lý. Thế là một giai đoạn đầu trong quá trình lập dòng đã kết thúc. Cộng đoàn ở Tân Thành đã đi vào lịch sử, và giờ đây là bước tái khởi sự tại Phước Lý để xây dựng cuộc sống mới.

Ngày tháng trôi qua êm đềm trong cuộc sống bình lặng trên một không gian cô tịch, có thể nói là một địa linh mà Thiên Chúa cuối cùng đã dẫn đưa con cái Ngài đến đây để ngày đêm giữa cảnh trời lồng lộng hoang vắng, vang lên lời kinh tiếng hát của các đan sĩ, chúc tụng ngợi khen Đấng Tối Cao.

Qua hai năm sống trên vùng đồng ruộng ẩm thấp, thuận lợi cho việc canh tác sản xuất, nhưng không mấy tốt cho sức khỏe của các đan sĩ. Hơn nữa việc kiến thiết cơ sở kiên cố cũng gặp không ít vấn đề khó khăn. Đang khi đó thì nhìn sang bên kia đường cái, đối diện với đan viện và chỉ cách đan viện độ 500 thước, là một đồn điền nhỏ độ 20 mẫu tây, trồng cây ăn trái, mặt đất bằng phẳng, có giếng nước lớn trong sạch. Các đan sĩ dự kiến nếu tậu được khu đất này để kiến thiết đan viện thì quá tuyệt vời. Tạ ơn Chúa, vì cầu được ước thấy. Thế là cuối cùng dự tính đã thành hiện thực, đan viện đã mua được sở đất này.

Một lần nữa, ngày 08-09-1954, các đan sĩ lại nhổ neo cuốn gói rời đất cô Tám Dung, để chuyển sang khu đất mới và khởi sự xây dựng lại dần dần các cơ sở cần thiết cho đến hôm nay. Còn đất ruộng của cô Tám Dung là để canh tác, đảm bảo lương thực cho cộng đòan.”

tamdung1

– Tại sao Bà Tám được chôn cất trong nhà thờ của Nhà dòng ?

Bà Nghĩa : Bà Tám thường ở nhà, ít đi ra ngoài và hay mặc áo dài đen. Bà thấy khó chịu nên đi khám bệnh và biết mình bị ung thư ngực. Thời đó, hễ nghe nói đến ung thư là coi như hết đường ; và cũng vì thế mà các cha trong dòng mới bàn tính việc hậu sự cho Bà. Các ngài quyết định chôn cất Bà tại nhà thờ của dòng vì nghĩ rằng Bà là đại ân nhân. Nhưng khi làm đơn qua Tòa Thánh để xin phép thì không được chấp thuận vì lý do : một nữ giáo dân làm sao được phép chôn cất trong nhà thờ của một dòng khổ tu nam.

Nhà dòng không nản chí, gởi tiếp một lá thư khác nhưng nội dung thì rõ ràng hơn ; đó là : Bà Maria Trịnh thi Dung là một người nữ tu (không lập gia đình và tu tại gia) đã dâng hiến đất đai để lập dòng Xitô Phước Lý; nên có thể gọi là người nữ tu lập dòng Phước Lý.

Thư đi không lâu thì được hồi đáp : Tòa Thánh đồng ý cho phép chôn cất bà trong thánh đường như là người sáng lập dòng.

Thế là sau khi Bà mất, linh cữu được đưa về dòng Phước Lý chôn cất trong nhà thờ. Đó là cách nhà dòng nhớ ơn Bà, mời Bà cùng tham dự thánh lễ và các giờ kinh phụng vụ ca tụng Chúa với các cha các thầy hằng ngày trong thánh đường.

Chuyện nầy đúng sai thế nào thì còn có các cha các thầy lớn tuổi kiểm chứng lại và hy vọng trong văn thư lưu trữ của dòng còn đầy đủ công văn cho phép của Tòa Thánh về vụ việc nầy.

 – Chuyện Bà Tám “hiện về” thực hư thế nào ?

Bà Nghĩa : Trước khi đi bệnh viện Bà Tám có chôn 2 chén hột xoàn, 1 ở đường đi vào phòng, 1 để ở trong tủ đựng  tiền và nữ trang.

Ngày bà đi bệnh viện, ở nhà không biết ai đã đào xới lấy đi 1 chén hột xoàn rồi trét lại y nguyên.

Sau khi Bà mất, một hôm, người nhà nghe tiếng đập cửa rầm rầm trong đêm tối như có ai phá cửa sắt nơi phòng để tiền. Cả nhà tưởng trộm nên báo cảnh sát và rình coi và nhìn thấy dáng ai giống như Bà Tám, có tướng đi khom khom…

Sáng hôm sau, cảnh sát tìm thấy chỗ xi măng mới trét, bèn dọng dọng xuống đât mấy cái thì thấy bị lún xuống và đào lên thì không thấy chén hột xoàn đâu nữa. Chén còn lại được tìm thấy trong phòng để tiền thì còn nguyên và sau đó được chia đều theo thứ bậc trong nhà …

Sau cái đêm hiện về đó, người nhà mới đặt nghi vấn không biết có phải Bà Tám hiện về để cảnh những ai tham lam của cải mà làm chuyện trái khuấy mất lòng Chúa. …Và cũng từ đó trở đi, nhờ việc cầu nguyện và hy sinh cũng như ơn lành từ các thánh lễ của các cha dòng…, không nghe chuyện Bà trở về nữa.

 – Các bà có nghe dòng họ kêu ca gì việc Bà Tám dâng cúng của cải cho dòng không ?

Bà Nghĩa : Không có ai than phiền gì cả , vì sau khi Bà mất, dòng họ có lấy số tư trang còn lại chia đều cho con cháu rồi.

Anh Chánh : Sau nầy, nghe nói có một vài người mạo nhận là con cháu Bà Tám, làm những chuyện không hay với nhà dòng, gây ngộ nhận không tốt. Thực ra, những người nầy là những người nghèo khổ, tha phương cầu thực, được Bà thương cưu mang và cho tá túc quanh nhà, rồi sau đó cho học đạo và theo đạo. Sau nầy một số người tự nhận là con cháu của Bà rồi tranh dành đất đai trong gia tộc, trong đó có tiệm giày Chợ Quán kế bên… khiến một số các cha các thầy mới, không rõ ngọn nguồn vội tin…

– Ý nguyện hiện nay của gia đình ?

Bà Nghĩa :  Tôi nghĩ, trong gia tộc, ai cũng muốn được một lần về thăm mộ của Bà Tám trong dòng Phước Lý và xin nhà dòng cho phép chúng tôi thực hiện việc nầy, ít là chính ngày lễ giỗ 11 tháng 10 hằng năm.

Ngày Bà mất, tôi mới 17 tuổi, cha mẹ không cho tiễn Bà đi xa. Rồi sau đó, những người lớn dần dần ra đi, còn lại lớp trẻ cở như tôi cũng đã ngoài 70 rồi, không biết nơi an nghĩ của Bà thì cũng buồn lắm !

Anh Chánh : Noi gương Bà Cố sống đời quảng đại hiến dâng cho Chúa qua việc dâng cúng của cải cho các Nhà Dòng. Nay, gia đình tuy không còn của cải nhưng vẫn cố gắng theo gương quảng đại ấy của Bà để giúp đỡ mọi người tùy theo khả năng hiện có của mình. Ngoài ra, một điều nho nhỏ là tha thiết xin nhà dòng, mỗi năm đến ngày lễ giổ của Bà, cho phép chúng con cùng tham dự thánh lễ giỗ như những năm thời Cha Hoàng Trung bên Châu Sơn và Đức Viện Phụ Vương Đình Lâm bên Phước Sơn có nhã ý mời chúng con tham dự lễ giỗ để chung lời cầu nguyện cho Bà mau về bên Chúa. Cũng như thỉnh thoảng đến thăm hỏi động viên chúng con là con cháu của Bà , để ít là giúp cho chúng con hiểu về đời sống đức tin và sau nữa noi gương quãng đại dâng hiến cho Chúa của Bà để chúng con vững tin hơn trong cuộc sống còn nhiều khó khăn hiện nay.

Đôi điều suy nghĩ …

Qua những gì biết được về Bà Tám Dung, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm quý báu nơi đời sống đức tin của tiền nhân mà chiêm nghiệm và áp dụng một cách khéo léo cho đời tín hữu của mỗi chúng ta. Vì thế, xin mạo muội đưa ra mấy nhận định sau :

1. Bà Tám Dung sống Lời Chúa cách mãnh liệt :

Khi còn tại thế, không biết bà có đọc Kinh Thánh nhiều hay không ? Cũng như bà có hiểu hết ý nghĩa của lời Chúa hứa qua một trong tám mối phúc là : “Ai khao khát nhân đức trọn lành ấy là phúc thật, vì sẽ được no đủ vậy ” không ?

Nhưng những gì Bà Tám đã làm cho các cha, các thầy trong dòng Xitô, cũng như mỗi ngày bà ao ước được tham dự thánh lễ với các cha, các thầy tại nhà của bà… cũng đủ nói lên niềm “khao khát nhân đức trọn lành” cùa bà là thế nào. Và những khao khát đó đã được Thiên Chúa yêu thương ban thưởng cho bà cách bội hậu khi cho phép bà sau khi chết cũng vẫn tiếp tục mỗi ngày, mỗi giờ cùng nguyện kinh, dâng lễ với các cha các thầy tại thánh đường của dòng.

Việc nầy cho thấy: những ai “thèm” được sống bên Chúa thì Ngài sẽ cho thỏa nguyện, chẳng những đời sau mà ngay cả đời nầy nữa. Bất luận người đó là ai, chứ không hẳn chỉ là các đan sĩ mà thôi đâu !

chukimtuyen2

2. Bà Tám Dung là một chuyên gia kinh tế lỗi lạc.

Sở dĩ gọi bà là “chuyên gia” là vì bà quá tài tình và có chuyên môn rất cao trong việc quản lý khối tài sản của mình sao cho “không bao giờ mất” mà còn vang danh mãi đến ngày nay.

Khi gặp những người có tuổi ở gần trụ sở nhà dòng, mặc dù họ không có đạo nhưng đều có chung một nhận xét là : “Bà Tám rất giàu và hay giúp đỡ nhiều người”.

Đây là một nhận xét rất khách quan, cho thấy những việc chia sẻ gánh nặng cho các người nghèo của Bà là một việc làm bình thường. Điều đó cho thấy bà rất khéo léo khi dùng tiền của đời nầy để, trước là giúp người trong cơn nguy khốn, sau nữa đưa họ về với Chúa qua việc cho học giáo lý và theo đạo. Việc làm nầy dưới cặp mắt đức tin của con cái Chúa là gì nếu không phải là việc kinh doanh Nước Trời, mà phần thắng luôn thuộc về Bà Tám. Từ đấy, gia tài của Bà không hề bị mai một, không hề bị sức mẻ. Những đứa con thiêng liêng của bà chính là những đồng lời quý báu được đầu tư từ những đồng tiền vật chất, nay trở thành khối tài sản thiêng liêng vô giá của bà trước mặt Chúa.

Của cải vật chất là vật vô tri vô giác, nhưng nếu biết xử dụng nó cho đúng ý Chúa thì cuộc đời mình trở thành người đầy tớ khôn ngoan của Thiên Chúa. Các thánh của Thiên Chúa thường làm như vậy và các ngài xứng đáng mang danh là những nhà “kinh doanh Nước Trời” cách lỗi lạc.

Trong số các vị thánh đó, chúng ta có thể tin là có tên của bà Tám nữa : Bà thánh Maria Trinh Thị Dung, người nữ tu lập dòng Phước Lý !

Bảo Tịnh ghi

hinh1-anHinh2-NGoc

                                                 Hình 1                                      Hình 2

 hinh3-Phathình 6-Nghia  

                                              Hình 3                                          Hình 4

hinh5-chanh hinh4-Ngoc

                                              Hình 5                                         Hình 6

hinh7-Thohinh8-truyen  

                                           Hình 7                                            Hình 8

                                 Lễ An Táng Bà Maria Trịnh Thị Dung

 Linh cuu-1

  linhcuu4 linhcuu5

Lnhcuu-2

linhcuu-3linhcuu6 linhcuu7 linhcuu8 linhcuu9 linhcuu10

virgo virgo
Bia của Bà Tám Dung trong nguyện đường

linhcuu

 

Advertisements
Bài này đã được đăng trong ĐV Phước Lý và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

One Response to BÀ TÁM DUNG, NGƯỜI NỮ TU LẬP DÒNG PHƯỚC LÝ

  1. Trần Thế nói:

    Bà Tám Dung chẳng những hiến đất lập dòng, mà bà còn cho nhà dòng thu huê lợi từ những ruộng đất của bà nữa. Lúc còn bé, tôi nhớ gia đình tôi ở gần nhà dòng, canh tác ruộng lúa, và mỗi năm cứ sau mùa gặt là có một cha hay thầy dòng chạy xe máy cày kéo rờ mọoc tới từng nhà thu lúa thay cho tiền mướn ruộng.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s