Tình yêu của Ngài đã lớn lên cùng với tôi

Một thiên tài thiêng liêng:

Terexa2TÊ-RÊ-XA HÀI ĐỒNG GIÊ-SU

Mở đầu

Một bạn gái thời tuổi nhỏ tỏ lộ những bí mật của mình.

Từ khắp nơi, trong thời này, hình như đang nảy sinh một tiếng gọi nhìn nhận Tê-rê-xa như một Tiến Sĩ Hội Thánh nhỏ bé trong Giáo hội, nếu không là một “ Tiến Sĩ Hội Thánh” – nhỏ bé nhất, có lẽ Chị sẽ nói như thế. Cha Marie-Eugène Giê-su Hài Đồng, không muốn đi trước quyết định của Giáo hội, đã luôn tin tưởng vào sứ mệnh đặc biệt  của Tê-rê-xa Lisieux, với tính cách là một bậc thầy thiêng liêng, đặt giáo thuyết của Chị ngang hàng với những giáo
thuyết quan trọng của mọi thời theo sau giáo thuyết của các thánh Bê-nê-đi-tô, thánh Tô-ma A-qui-nô, thánh Phan-xi-cô, thánh Tê-rê-xa Avila, thánh Gioan Thánh Giá…”[1][1]. Những bài được gom lại đây có thể giúp để có thể xác quyết điều đó.

Henri Grialou (1894-1967) đã biết Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su từ thuở bé, khi còn ở tiểu chủng viện, “nhờ một quyển sách chẳng đáng giá gì”, và ông đã không ngừng trở về và múc lấy trong bài thơ Cánh hoa hồng tàn rả cánh mà ông vẫn giữ bên mình mãi, cả lúc ông đi đánh giặc ngoài chiến tuyến (1914-1919):” Không quyển sách nào ảnh hưởng lên tôi hơn quyển sách này… Tôi không thể dùng từ nào để diễn tả được. Thật tuyệt vời !”[2][2].

Ông đã kinh nghiệm sự chở che quyền thế của Chị trong những lúc hành quân ở xứ Argonne, ở Verdun hay ở Chemin des Dames[3][3]; nhưng không phải những thứ đó hấp dẫn ông, như ông đã nói với một người bạn trong dịp phong thánh cho Tê-rê-xa, ngày 29 tháng 4 năm 1923:

“Tất cả những phép lạ bên ngoài, chữa lành vv… không đánh động tôi bao nhiêu; chính những điều kỳ diệu xảy ra trong các tâm hồn mới gây ấn tượng cho tôi và chính những điều đó mới làm sáng danh Chúa Giê-su…

Riêng tôi, tôi có cảm tưởng là ngày đẹp nhất đời tôi… Đây chính là những ước mơ xa xưa và rất thâm sâu đã được thực hiện. Có lẽ tôi đã cầu nguyện cho việc phong thánh em Tê-rê-xa hơn bất cứ ý nguyện nào… Sứ mệnh của Đấng thánh nhỏ của chúng ta là một sự tràn đầy tình yêu Chúa trong các tâm hồn, dưới hình thức Chúa muốn cho thời đại chúng ta, hình như thế…

Việc phong thánh này là dấu chỉ sự xác thực thần linh của sứ mệnh này… Có sự biết ơn vì những ơn lành đã lãnh nhận, cho những điều kỳ diệu nho nhỏ mà tôi đã chứng kiến, nhưng có những hy vọng to tác, chưa xác định được nhưng gần như vô biên cho tương lai. Nhưng hy vọng đó nuôi dưỡng tâm hồn tôi, tôi gắn bó keo sơn với những điều đó, gần như gắn bó với những hy vọng mà Giáo hội nuôi dưỡng trong lòng chúng ta nhờ đức tin. Hình như Tê-rê-xa nhỏ bé phải đổ tràn trên thế giới những dòng tình yêu thần linh nữa.”[4][4]

Khi viết những dòng chữ này, Henri đã tìm thấy ơn gọi dòng kín của mình và đã khấn lần đầu (11-3-1923), mang tên là Marie-Eugene Hài đồng Giê-su[5][5]. Vào mùa thu năm ấy, ông đã bắt đầu tham dự vào việc phổ biến giáo thuyết của Tê-rê-xa khi giảng những tuần tĩnh tâm ở Amiens và Rhôdez.

“Về tình yêu” chắc có, người ta cảm thấy, đoán thấy, người ta thấy thực sự trong tâm hồn của Cha giảng trẻ trung này, một Linh mục Dòng Kín đi chân không, con của vùng đất Aveyron, báo chí thời đó đã thuật lại như thế. Cha nói về Đấng Chân Phước như một người thân hay hơn nữa như một người chị. Những tiếng nói đầu tiên của ngài là: “Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình yêu và Tê-rê-xa, không thể lìa nhau được”[6][6].

Lúc ấy, đối với ngài là những bước đầu tiên của một hoạt động rao giảng hết sức hăng say sẽ được tiếp tục suốt đời ngài để “chuyển thông ánh sáng, linh đạo của Dòng Cát-Minh, với luồng sinh khí mới do Thánh Nhỏ thành Lisieux thông chuyển cho. Tiếp đó là một chuỗi kỳ cấm phòng ba ngày để cầu cho việc phong thánh cho Tê-rê-xa (1925)., tiếp đó là một loạt tuần phòng để cầu nguyện cho việc tôn phong Tiến Sĩ Hội Thánh cho Thánh Gioan Thánh Giá, “Cha linh hồn của ngài”. Nhưng việc phổ biến đó lại đồng thời lan sang việc truyền giáo bằng ngòi bút trong tạp chí Cát-minh mà ngài đảm nhiệm (1925-1929), tiếp đến là một loạt tuần phòng giảng cho các tu viện Cát Minh nữ càng ngày càng nhiều. Đặc biệt hơn, việc huấn luyện cho những người đầu tiên của một hội dòng sẽ được thành lập từ năm 1932 và sau này trở thành Viện Đức Bà sự Sống, cũng được thành hình dưới nguồn sáng này.

*

Trong việc giảng dạy của ngài, Cha Marie-Eugène luôn trở về với tính cách hết sức Cát-minh và rất thích hợp với những nhu cầu sâu thẳm nhất của thời đại chúng ta của giáo thuyết của Tê-rê-xa Hài Đồng  Giê-su.

“Tinh thần của Tiên Tri Ê-li-a sống lại trong dòng giống Cát Minh, ngài viết vào đầu năm 1929, và  tươi nở trong tâm hồn của Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su trong thế kỷ của chúng ta. Tê-rê-xa, được hướng dẫn đến dòng Cát-Minh nhờ lòng nhiệt thành đối với sự trở lại của các linh hồn tội lỗi và sự thánh hóa các linh mục, đã tìm thấy chỗ đứng trong lòng Giáo hội. Tê-rê-xa đã viết: “Trong lòng Giáo hội, thưa Mẹ, con sẽ là Tình Yêu”. Chị đã bám sâu vào đó và tiêu hao trong đó”.

Và ngài đã tiếp tục, dựa trên lời của Đức Thánh Cha Pi-ô XI  trong lễ phong thánh:

“Tất cả dân Công giáo được Đức Thánh Cha mời gọi đi vào con đường thơ bé của chị. Chị là thầy dạy sống thiêng liêng để đền bù những tai hại của tính kiêu căng của trí tuệ trong nền văn minh Công giáo xưa cũ của chúng ta, và như Đấng Bổn Mạng của Công cuộc truyền giáo, chị đi đầu những người chinh phục trên những sân bãi xa lạ…”[7][7]

Những gì Dòng Cát-Minh được kêu gọi sống trong tuyệt đối của ơn gọi mình là một kho tàng phải quảng bá rộng rãi cho tất cả những người khao khát biết Tình yêu của Chúa và dấn thân vào. Đó là những đòi buộc của Tình Yêu là chính Thiên Chúa:

“Kho tàng ấy, tình yêu của Thiên Chúa ấy muốn lan rộng và tìm kiếm những tâm hồn, trong mọi môi trường, để mời gọi họ vào sự thân mật và tỏ cho họ những bí mật của quả tim Ngài. Tư tưởng đó, chúng ta tìm thấy nơi thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su khi chị viết thư cho chị Marie Thánh Tâm. Chị muốn có một đạo binh những tâm hồn nhỏ bé để truyền bá Tình Yêu, và như thế không phải chỉ trong các tu viện, mà nơi phố phường, trên công lộ, bất cứ nơi nào Thiên Chúa kêu gọi vào thân mật thần linh của Ngài”.[8][8]

Đó chính là tư tưởng của Cha Marie-Eugène đồng nhịp với tư tưởng của Têrêxa, thoát ra từ sự hiểu biết của chị về Tình Yêu (của Chúa Giê-su), cho chị cũng như cho Cha. Chị hướng tất cả cuộc sống của chị và sứ mệnh của chị, khơi dậy, mọi nơi mà Thánh Thần Chúa đưa dẫn đến, những dụng cụ sống động, được trao gởi cho ân huệ của Chúa và làm chứng nhân cho tình yêu ấy. Đó cũng là nền tảng của sự  tổng hợp thật đậm đặc và sâu xa của bài thuyết trình tổng kết của Cha trong Những Ngày Đại Hội Tê-rê-xa năm 1947, được ghi lại trong sách này. Sau khi đã nói đến Thánh trẻ cắm rễ sâu trong truyền thống của dòng Cát-Minh như thế nào, cũng còn có chỗ để nói đến những trục của những kinh nghiệm thần linh và giáo thuyết của thánh nữ  một cách rộng rãi và chính xác và để kết thúc bằng những kết luận, những luận cứ thần học thiêng liêng. Chính Tê-rê-xa, “vị tiến sĩ của thần học thần bí”. Những lời cuối cùng của bài thuyết trình cho chúng ta biết Ngài biết về Tê-rê-xa sâu xa như thế nào, “tiếng nói ấy của Chúa” cho thế giới của chúng ta, và viễn tượng ngài muốn đặt thánh nữ, mời gọi nhìn nhận cách đầy đủ và sâu xa hơn sứ mệnh thiêng liêng của thánh nữ đã hoạt động. Cần nên trích dẫn dài dòng hơn ngay từ bây giờ:

“Đối với nền văn minh tinh vi và chán buồn của chúng ta, đã đánh mất tâm thức về vô biên và đang vì đó mà đau khổ, Thiên Chúa đã sai đến một em bé, với những nét duyên dáng dễ mến và nét trong sáng đơn sơ, lặp lại sứ điệp vĩnh cửu của tình yêu của Ngài, vì Ngài đã tạo nên chúng ta bằng tình yêu, tình yêu Ngài vẫn sống động, và tình yêu ấy càng nóng sốt hơn vì những thối thoát của chúng ta, và Ngài đang chờ đợi chúng ta yêu mến Ngài như những trẻ nhỏ, và chúng ta để Ngài yêu chúng ta như những trẻ nhỏ.

Vào mỗi khúc quanh của lịch sử, Chúa Thánh Thần đặt một người hướng dẫn, với mỗi nền văn hóa, Ngài ban cho một bậc thầy để đem lại nguồn sáng của Ngài…

Nói tiên tri vẫn là một hiểm họa. Nhưng có phải là nói tiên tri khi diễn tả những linh tính của chúng ta cho mọi người, niềm xác tín của chúng ta được dựa trên công trình đã được thực hiện, trên khoản không gian mà nó đang hoạt động là cả thế giới, trên quyền lực và sự trong sáng của ánh sáng đang bùng phát và quả quyết rằng Tê-rê-xa sẽ là, đang là một trong những đấng hướng dẫn tâm hồn có thế giá nhất trong hết cả mọi thời”[9][9].

*

Niềm xác tín đó, dựa trên Thiên Chúa và trên những ân huệ Ngài đã tỏ ra, làm nảy sinh một niềm hy vọng đúng với tầm vóc của việc thực hiện Ý Định của Ngài; Cha Marie-Eugène đã không ngừng thông chuyển niềm xác tín ấy suốt đời của ngài.

Trong tác phẩm Tôi muốn thấy Chúa  của ngài, cũng chính Tê-rê-xa đó, sau khi đã tỏ hiện một cách âm thầm, nói lên tiếng nói cuối cùng của giáo huấn thực tế đó, được cấu thành cách vững chắc từ tác phẩm  Sách của những Chốn Thiêng  của Thánh Tê-rê-xa Avila và được soi sáng nhờ thánh Gioan Thánh Giá.

Đó không phải là một ngẩu nhiên hay một chuyện không đáng kể; ngài tự giải thích:

“Tê-rê-xa Hài Đồng Giêsu rất gần chúng ta; hình như chúng ta đã biết chị đến nỗi chúng ta phản ứng và nói như chị; cũng như một bà thầy trẻ đang ngồi bên cạnh chúng ta để kể cho chúng ta nghe những kinh nghiệm của mình; chị chỉ như một tiến sĩ nhỏ thôi, có những quan niệm đơn sơ đến nỗi xem như nghèo nàn; nhưng chị chinh phục chúng ta bằng ánh sáng cao cả và đơn sơ ngập tràn trong những từ của chị, bằng cuộc sống và tình yêu của chị đang trào tràn, bằng bài dạy của chị, làm rung động không những tu sĩ chiêm niệm như chị mà cả đến những tâm hồn đơn sơ nhỏ bé nhất, nhờ cách kể chuyện giản dị, sống động và gợi hình của chị, sau cùng nhờ nụ cười tiếp đón của chị, nói lên tính tế nhị của tình yêu siêu nhiên chị bao bọc chúng ta trước khi chúng ta đến với chị”[10][10].

Điều đó gần như một tự thuật về người mà Mẹ Agnès de Jésus đã nói đến ngày nào đó: “Tôi chưa từng thấy một tâm hồn nào giống em tôi như Cha Marie Eugène”[11][11]. Chị Geneviève cũng quả quyết, khi đọc đoạn nói về sự tôn sùng Khuôn Mặt Thánh của Chúa trong quyển Tôi muốn thấy Thiên Chúa:” Không thể nào hiểu rõ hơn và nói hay hơn. Tất cả đều đúng”[12][12].

Cha Marie Eugène thường thích tổng hợp một cách sống động nhất là  trong những bài giảng tĩnh tâm cuối cùng của ngài từ năm 1962 và 1966, lời dạy đã nêu trên, trong khuôn mặt và giáo thuyết của “người bạn thời thơ ấu ấy”, ngài nói với một giọng đơn sơ, Người bạn ấy đã sống gần gũi chúng ta, và càng lớn lên, đã tâm sự và tỏ ra những bí mật của tâm hồn nàng”[13][13]. Một vang âm nào đó có thể nhận ra được trong hai bài nói chuyện ở đầu sách này, vẽ nên diện mạo nhân loại và thiêng liêng của Tê-rê-xa mà ngài yêu quí.

Vào năm 1955, cha trở về Pháp sau những năm “cực nhọc” ở Rô-ma sau thế chiến trong Hội Tổng Quyền của nhà dòng, trong thời gian đó Ngài được chỉ định thanh tra những Dòng Cát-minh người Pháp và cả những Hiệp Hội của họ. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm thánh Tê-rê-xa qua đời (1957) ngài thúc đẩy một đà tiến mới nghiên cứu về thánh nữ[14][14]. Ngài vừa được gọi làm Giám Đốc những tạp chí cát-minh và đã góp phần vào việc xuất bản những thủ bản chính của thánh Tê-rê-xa  (1956). Chính ngài cũng giảng nhiều lần và nhiều nơi như ở Notre Dame sự Sống và nhiều nơi khác như ở Bordeaux, Marseille và Carpentras năm 1958. Trên hết, ngài nhấn mạnh và quảng diễn đức thanh bần thiêng liêng của Tê-rê-xa xem đó như điều kiện để đón nhận Tình Yêu Chúa mà thánh nữ đã tìm thấy được bí mật, dưới hoạt động của Thánh Thần. Như thế, sự trong sáng đối thần của niềm tin và đức trông cậy của Tê-rê-xa càng rõ nét hơn, đồng thời với sự tế nhị và năng lực đáp trả tình yêu của ngài trong những chi tiết nhỏ bé nhất  của  cuộc đời thường.

Cũng chính trong đường hướng đó và trong thời gian đó, (1959) Cha đã nghiên cứu lại hồng ân của ngày lễ Giáng Sinh năm 1886, việc “trở lại hoàn toàn” của Tê-rê-xa mà ngày đệ nhứt chu niên không thể làm lu mờ nét phong phú của nó. Ngài soi rọi nó một cách đặc biệt nhờ những kết quả của khoa tâm lý hiện đại và nhờ những giáo thuyết của các thánh như Tê-rê-xa Avila và thánh Gioan Thánh Giá. Như thế, Cha đã nêu rõ năng lực chữa trị của hoạt động của Thiên Chúa trong mọi lãnh vực của con người, để giúp họ đạt đến “sức khỏe thực sự của tâm hồn” chính là sự thánh thiện; và đồng thời cũng làm sáng tỏ sự thanh bần thiêng liêng theo sau hoạt động đó của Chúa, nhất là khi nó lại được đánh giá cao. Trong chiều hướng đó, bài dạy của Tê-rê-xa, của cuộc sống và giáo thuyết của thánh nữ có thể soi sáng cho nhiều kinh nghiệm thần bí chưa biết rõ mình. Nó cũng có thể khích lệ nhiều người đang do dự, những người nghèo và nhỏ bé, bước tới, không đòi hỏi những dấu hiệu phi thường, tới sự thánh thiện dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, hôm nay đang mời gọi hơn bất cứ lúc nào, trong Giáo hội và cho Giáo hội.

Một kinh nghiệm chung của Tình Yêu.

Nơi cội nguồn của việc giảng dạy bằng lời của Cha Marie-Eugène trong suốt cuộc sống của ngài cho thấy chính kinh nghiệm thiêng liêng riêng biệt của ngài cũng gần giống như của thánh nữ Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su. Việc khám phá ra Tình Yêu đang tự hiến một cách vô thường và nơi thánh nữ luôn phó thác hoàn toàn, đó chính là nét độc đáo, là đặc tính riêng của ân sủng và sứ mệnh của thánh nữ nhỏ bé này trong Giáo hội. Thánh nữ viết: “Tình yêu Chúa đã được ban cho con trước từ tuổi nhỏ, nó đã lớn lên cùng với con và bây giờ, là một vực thẳm mà con không thể dò thấu” [15] [15] . Cha Marie-Eugene giải thích: đó là Tình Yêu bản thể, Tình Yêu bản thể là chính Chúa Thánh Thần.

Tự hiến vô điều kiện cho Chúa Thánh Thần Tình Yêu cũng là một nét nổi bật của ơn thánh của Cha Marie-Eugène đến nỗi chị Marie Pila, người cùng đồng sáng lập tu viện Đức Bà Sự Sống, nói về cha như sau: “Với Chúa Thánh Thần, hình như người ta chạm tới huyền nhiệm của cha Marie-Eugène” [16] [16] . Ngài cảm thấy gần với Tê-rê-xa khi ngài là đối tượng, ngay từ lúc còn ở nhà tập, của những sức ép thật mãnh liệt của Thánh Thần Tình Yêu, ngài có thể nói là như một “Lễ Hiện Xuống được sống thực sự”. Sự hiểu biết của ngài về Chúa Thánh Thần, sự hiểu biết như đồng bản tính đặc biệt của nhân cách thiêng liêng của ngài, là hoa trái của một sự thân mật lâu dài làm cho ngài có thể nói vào cuối đời: “Tôi gọi Ngài là “bạn của tôi”, và tôi có đủ lý do để làm như thế” [17] [17] .

Chính là Chúa Thánh Thần Tình Yêu, Tình Yêu bản thể, như người ta có thể đọc trong một câu riêng biệt vào năm 1952: “Người là Thánh Thần Tình Yêu đang sống trong tôi và đã bắt lấy tôi từ lâu.

Sự hiện diện sống động, bao trùm, cai quản.

Chính Người lan tỏa Tình Yêu và tạo nên Giáo hội.

Sự thánh thiện của tôi chính là tin vào Người, tin vào sự hiện diện của Người và hiến dâng trọn vẹn cho Người”.

Trong niềm tin và với thái độ của trẻ em chỉ biết phó thác, cha Marie-Eugène trao phó mình cho Thánh Thần đó mà ngài đã nhận thấy trong ngài và những ảnh hưởng liên tục của Người đưa dẫn ngài, như Tê-rê-xa, ước ao chìm càng ngày càng sâu hơn  trong Tình Yêu:

“Hãy cầu nguyện để xin Tình Yêu. Đó là lời cầu duy nhất. Tôi chỉ cầu cho những người thân của tôi được Tình Yêu thôi; đó chính là thực tại duy nhất có giá trị, là điều vĩnh cửu cần cầu xin cho các bạn.

Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su thật tài tình trong vần đề này: “Hãy cho con Tình Yêu”, Ngài cầu xin với Chúa như thế. Chị bảo người anh thiêng liêng của chị cầu cho chị được yêu mến Chúa và làm cho người khác yêu mến Chúa [18] [18] .

Vì ngài được yêu thương như thế nên Cha Marie-Eugène có thể dạy người ta yêu mến Chúa. “Cha là nhà giáo dục tình yêu, với một sức mạnh, một sự tế nhị, một sự tinh tưởng lạ thường!” Bà Marie Pila đã chứng thực như thế [19] [19] . Cha muốn rằng Cơ sở Notre Dame de Vie phải là một trường học tình yêu, của thứ tình yêu bắt nguồn từ Chúa Thánh Thần và ngài xem như Chúa Ki-tô, Đấng đã yêu thương những người thuộc về Ngài đến tận cùng. Hai tháng trước khi ngài qua đời, lúc ngài đau nặng, ngài nói:  “Khi tôi ngủ say, tôi không suy nghĩ. Khi tôi thức dậy, chỉ có Chúa Thánh Thần mà thôi. Thánh Thần chiếm lấy tất cả. Tôi luôn ở với Chúa Giê-su, như thể là một với Người. Tôi “hít thở” Tình Yêu như Người. Người  “hít thở” Tình Yêu, Chúa Cha cũng  “hít thở” Tình Yêu. Tôi  “hít thở” Tình Yêu để ban nó cho các bạn” [20] [20] .

Dấu ấn cuối cùng của sự thánh thiện của Tê-rê-xa, đối với Giáo hội, chúng ta biết rồi, là sự đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su Ki-tô, đến tận cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài, như Tê-rê-xa đã ước mong [21] [21] . Con đường thơ ấu được kiện toàn và tìm thấy những hứa hẹn phong phú nơi đó. Chúng ta có thể quả quyết rằng, đối với Cha Marie-Eugène Giê-su Hài Đồng cũng thế thôi, tùy theo ân huệ của ngài nhưng cùng trong con đường thơ ấu ấy.

Cuộc “vượt qua” nhờ đau khổ sẽ dẫn dắt ngài đến Sự Sống cuối Tuần Thánh năm 1967, chứng minh một cách đặc biệt mối liên hệ sâu xa giữa tâm hồn và ân sủng của ngài với Tê-rê-xa. Cuộc Tử Nạn đó cuối cùng đã làm cho ngài thành “người em thiêng liêng” thực sự của thánh nữ, có khả năng tỏ hiện một cách mãnh liệt sức mạnh của giáo huấn của Ngài và hơn nữa khơi lên một luồng sinh khí siêu nhiên trong dòng thác của Lòng nhân hậu mà Chúa luôn muốn tuôn trào xối xả trên thế giới [22] [22] .

*

Sứ mệnh của Cha Marie-Eugène không chấm dứt với cái chết của ngài. Cũng như sứ mệnh của Tê-rê-xa, nó ghi khắc trong chính sự chuyển động của Tình Yêu:

“Tôi đã hiểu Lòng Thương Xót. Thánh Tê-rê-xa cũng cảm nghiệm sự ngọt ngào của nó, còn tôi, tôi cảm nghiệm mãnh lực của nó” [23] [23] .

Chúc thư thiêng liêng của cha tỏ cho chúng ta thấy sứ mệnh nhờ đó ngài đi sâu vào lời cầu nguyện của Chúa Ki-tô, Đấng đã ban Thánh Thần, Thánh Thần Tình Yêu:

“Tôi gây ồn ào khá nhiều cho Chúa Cha, nơi Chúa Con và cả nơi Chúa Thánh Thần, tôi không nghĩ rằng, Ngài đã thương tôi quá nhiều, Ngài lại không cho tôi đến với anh em, Ngài sẽ không cho tôi gởi nó đến cho anh em” [24] [24] .

  1. Girard

Centre Notre-Dame de Vie

 Lm Trầm Phúc chuyển ngữ

 Têrêxa Lisieux , 1937, trang 197.

Bài này đã được đăng trong Dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s